BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35605)
(Xem: 33238)
(Xem: 32304)
(Xem: 24658)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Tôi Đi Tìm Tự Do - Kỳ 61 đến 80

01 Tháng Tư 201312:00 SA(Xem: 667)
Tôi Đi Tìm Tự Do - Kỳ 61 đến 80
50Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
00

KỲ 61



Tôi quen BL ngay từ trước 1975, trong dịp chúng tôi cùng tham dự khoá huấn luyện quân sự mấy tuần tại Vũng Tàu. Lúc đó, BL làm bên thuế vụ, còn tôi làm bên bộ dân vận chiêu hồi. Trong thời gian dự khóa huấn luyện, một buổi nọ, khi nghe thuyết trình viên trình bầy về chủ nghĩa cộng sản và con người cộng sản có nhiều điểm không lột tả hết tội ác và thủ đoạn tàn nhẫn của cộng sản nên tôi đã đứng lên phản bác. Sau đó, với tư cách một người đã từng sống 20 năm trong chế độ cộng sản và hiểu rõ bản chất thâm hiểm của cộng sản, tôi đã trình bầy trong hai tiếng đồng hồ tất cả những điều tôi mắt thấy tai nghe về những điều xấu xa trong xã hội cộng sản. Rồi trong những buổi kế tiếp, tôi cũng kể về chuyến đi tìm tự do của tôi. Từ đó, tôi quen thân một số bạn bè, trong đó BL là người thân nhất, lúc nào cũng coi tôi như em.


 


BL là một người đàn ông cao to, đẹp trai, trông tựa như Tây lai. Với cặp mắt sáng, lông mày đậm, hàm răng trắng và bộ râu quai nón rậm rì, anh có khả năng chinh phục tình cảm của bất cứ ai. Ngay cả tôi là một người con trai, vậy mà khi quen biết anh, tôi cũng thấy “mê” anh. Có điều lạ là anh lúc đó đã ngoài 30 nhưng vẫn chưa có gia đình và chẳng hề có người yêu. Có lần, anh em làm việc chung với anh nửa đùa nửa thật cho tôi biết, anh là “bê đê”. Tôi nghe chỉ biết vậy, nhưng lúc đó tôi không biết “bê đê” là gì. Vả lại lúc đó thấy mọi người cùng cười ồ lên khi nghe tiếng “bê đê”, nên tôi cũng ngại không dám hỏi.



Sau này, khi làm việc ở đài phát thanh Sàigòn tôi có quen với một anh chàng nghệ sĩ cải lương, anh ta quý mến tôi một cách đặc biệt và đối xử với tôi kỳ lạ, chẳng giống bạn trai cư xử với nhau. Trong những lúc chờ thâu chương trình phát thanh, hay sau khi thâu xong, tôi hay ngồi ở ghế băng bên ngoài đài, nhìn ra đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Những lần như vậy, anh này bao giờ cũng mua cóc, ổi với muối ớt làm quà cho tôi. Rồi mỗi khi nói chuyện, anh hay bẹo má, cầm tay, hay quàng vai, rồi hôn tôi, khiến tôi rất ngượng. Đến khi có cô làm việc ở phòng thu âm của đài nói cho tôi biết, anh chàng có “máu bê đê”, và giải thích cho tôi hiểu, tôi mới biết “bê đê” là gì. Khi đó, nhớ lại những lời đồn đại về BL, tôi cũng nghi anh…. Nhưng sau này, trốn trại cải tạo ra, được gặp lại anh, tôi mới biết mọi lời đồn đại đều sai, vì anh đã có gia đình, và có một đứa con trai.



Gặp lại tôi, BL vừa ngạc nhiên vừa lo ngại. Nhìn ngược nhìn xuôi thật nhanh, rồi anh rủ tôi vô một quán cóc vắng vẻ và kín đáo ở ngay vùng Đa Kao. Ngồi xuống ghế, gọi cà phê xong, anh hỏi ngay:



- Chú mày vừa mới trốn trại?



Tôi gật đầu, ngạc nhiên:



- Sao anh biết?



BL cười, hàm răng trắng như bắp:



- Tội của chú mày không bị chúng xử tử thì cũng bị tù đến mọt gông. Làm gì có chuyện chúng vừa bắt đã thả. Vì vậy thấy chú mày là tôi biết ngay, chú chỉ có trốn trại.



Anh kể cho tôi nghe, sau khi nghe tôi bị bắt, anh và em gái của anh đã tìm cách thăm nuôi tôi nhiều lần, nhưng không được. Cho đến khi tôi bị chuyển đi Kàtum, anh có nhờ ông chú họ ở Tây Ninh ghé thăm, nhưng ban chỉ huy trại tù chỉ chịu nhận đồ, chứ



không cho ông ta gặp tôi. Bây giờ nghe anh BL nói tôi mới biết, nhưng trong suốt thời gian ở tù tại Kàtum, tôi không hề nhận được bất cứ đồ thăm nuôi nào của ai.



Sau một hồi tâm tình đủ thứ chuyện, BL hỏi tôi:



- Bây giờ chú mày tính sao? Vượt biên hay trốn về Bắc sống?



Tôi lắc đầu:



- Nếu về Bắc sống thì thà em cứ sống trong trại tù cải tạo còn sướng hơn. Thú thực với anh, em trốn trại tù ra là bằng mọi giá, em phải vượt biên ra ngoại quốc. Chứ còn sống ở Việt Nam, tối ngày nơm nớp, sợ hãi, có thể bị tụi nó bắt lại bất cứ lúc nào, thì làm sao em sống cho nổi. Đời em đã vậy, còn con cháu em sau này.



- Chú định vượt biên bằng đường nào?



- Hoàn cảnh của em thế nào, anh cũng biết rõ. Em không thể nào có đủ tiền đủ vàng để vượt biên bằng đường biển nên em phải vượt biên bằng đường bộ. Em tính vượt biên qua ngả đường số 9, là nơi em ít nhiều đã quen biết từ xưa.



BL gật đầu đồng ý:



- Chú tính như vậy rất đúng. Vượt biên bằng đường bộ có cái nguy hiểm của nó, nhưng chú mày là người đã từng có kinh nghiệm đi lại trong rừng, lại quen thuộc vùng đó, nên tao tin là chú mày sẽ thành công. Nói thực với chú, nếu tao không vướng víu vợ con, thì tao cũng đã vượt biên từ lâu rồi. Bây giờ có vợ đẹp, con thì còn nhỏ, tao bỏ đi vượt biên một mình thì không nỡ, mà mang cả vợ con đi, lỡ bề nào thì mình ân hận suốt đời. Vì vậy, tao đành cắn răng chịu đựng một thời gian với tụi Vẹm xem thế nào. Nếu cùng quẫn quá thì tao mới tính đến chuyện vượt biên. Còn hoàn cảnh của chú mày khác hoàn cảnh của anh. Chú mày ở lại thêm ngày nào nguy hiểm ngày đó, nên đừng nấn ná thêm nữa…



Ngừng lại một chút, BL hỏi thẳng tôi:



- Bây giờ chú thấy anh có thể giúp được chuyện gì?



Tôi cảm động nhìn anh:



- Em muốn anh giúp em hai chuyện. Chuyện thứ nhất, anh có thể xoay cho em ít giấy tờ công tác lưu không. Chuyện thứ hai là bản đồ chi tiết vùng Đông Hà, Quảng Trị; và một chiếc địa bàn.



BL đưa tay xoa xoa cằm một hồi rồi nói, giọng tư lự:



- Về địa bàn và bản đồ thì để anh nói với ba, xem ông cụ xoay sở được không. Còn giấy tờ lưu không, chú mày để tao xem thế nào. Thường thì giấy tờ công tác của các nhân viên trong cơ quan do tao soạn, rồi đưa vô cho thằng “thủ trưởng” ký. Mỗi lần như vậy cả mấy chục tờ, nên tay “thủ trưởng” chẳng bao giờ coi giấy đó cho ai, đi công tác gì. Y chỉ lật ở phía, chỗ y phải ký, rồi kí tên. Sau này, y muốn mọi việc trôi chảy, nhanh lẹ, nên y bảo tao mỗi lần, xếp tất cả những giấy công tác so le, để hở phần dưới cho y ký một mạch cả mấy chục chữ ký, ào một cái rất nhanh. Vì vậy, tao chỉ cần nhét vô xấp giấy công tác đó một vài tờ lưu không cho y ký là xong. Con dấu thì tao đóng, muốn bao nhiêu cũng được. Nhưng tao chỉ ngại…



Nói đến đó, BL ngừng lại, có vẻ đắn đo. Tôi sốt ruột, hỏi:



- Anh ngại chuyện gì?



BL nói:



- Tao chỉ ngại là tao thấy đôi lần sau khi ký xong, tên “thủ trưởng” có lật lên xem qua một vài tờ. Vì vậy, nếu để nhiều tờ lưu không, e sẽ bị tên “thủ trưởng” phát hiện thì chết cả đám. Nhẹ thì tao bị đuổi sở, mà nặng thì dám chúng tống tù tao lắm.



- Theo em thì tốt nhất mỗi lần anh chỉ nên để một tờ thôi.



BL nhìn tôi:



- Chú mày cần mấy tờ giấy công tác lưu không?



- Em chỉ cần một tờ cho em, và hai tờ…



BL hỏi ngay:



- Chú mày định đi với hai người khác?



Tôi gật đầu. BL lắc đầu:



- Như vậy rất nguy hiểm. Chú phải hiểu, đi vượt biên càng đông người càng dễ bị lộ. Nhất là vượt biên bằng đường bộ. Vả lại, tao thấy rất khó kiếm được người lanh lẹ tháo vát như chú mày…



Tôi nói ngay:



- Hai người này là cháu gái gọi em bằng cậu, và thằng bồ sắp cưới của nó. Em đã nhận lời với bà chị của em là cho chúng nó đi vượt biên cùng.



BL im lặng. Tôi rụt rè hỏi:



- Anh có thể giúp em được không?



- Chú mày đã nhận lời cho họ đi chung, thì tao không còn cách nào khác, chỉ biết lo liệu để cho chú có đủ 3 tờ giấy công tác lưu không thôi. Còn mọi chuyện thành bại thì do trời định. Chú định chừng nào lấy mấy tờ giấy đó?



- Khoảng một tuần lễ nữa, có được không anh?



- Bây giờ là Thứ Bảy. Chủ Nhật tới, anh sẽ gặp chú ngay trước cửa nhà thờ Thiên Phước vào lúc 6 giờ chiều. Anh sẽ có mặt ở đó trước 6 giờ, trao giấy tờ cho chú. Nếu chú tới đó chờ anh khoảng nửa tiếng, không thấy, có nghĩa là anh chưa lo được giấy tờ cho chú. Khi đó, chú cứ đi về và trở lại đó vào Chủ Nhật tuần sau, cũng 6 giờ chiều.



Tôi vô cùng xúc động. Tôi biết, anh làm việc đó cho tôi là phải đối diện với rất nhiều nguy hiểm. Nếu chẳng may câu chuyện đổ bể, ít nhất anh cũng sẽ bị đuổi sở, mất việc làm; mà nguy hiểm hơn, anh còn có thể bị tù tội.



BL nói tiếp:



- Còn về bản đồ và địa bàn, anh nghĩ tốt nhất chú nên ghé thẳng nhà ba của anh để lấy. Vì thời buổi này, anh mang những thứ đó trong người rất nguy hiểm. Chú để anh hỏi ông cụ xem thế nào, rồi anh sẽ cho chú biết.



VÌ BẢN ĐỒ VÀ ĐỊA BÀN,TÔI SUÝT BỊ BẮT!



Chiều Chủ Nhật tuần sau, tôi y hẹn đến trước nhà thờ Thiên Phước, đã thấy anh BL đứng đó. Lần này, chúng tôi không nói chuyện với nhau được nhiều. Anh chỉ lẳng lặng trao cho tôi cuốn sách “Ngục Trung Nhật Ký” và dặn tôi chiều Thứ Bảy tuần kế đó, ghé nhà ba của anh để lấy bản đồ và địa bàn. Sau đó, anh cho tôi biết địa chỉ, giờ giấc. Anh cũng bảo tôi, vào chiều Thứ Bảy hôm đó, anh sẽ có mặt ở nhà để chờ tôi.



Tối hôm đó, tôi ghé thăm chị tôi ở cư xá Chu Mạnh Trinh. Mặc dù trên đường đi, tôi rất muốn mở cuốn sách ra xem những tờ giấy công tác lưu không mà BL đã lo liệu cho tôi, nhưng tôi phải cố gắng đè nén lòng bồn chồn của mình, không dám mở ra xem. Khi đến nhà chị, đóng cửa ra vô và cửa sổ thật kỹ lưỡng, tôi mới dám mở cuốn sách ra coi. Ở giữa cuốn sách có một chiếc phong bì giấy cũ. Trong phong bì có tất cả 10 tờ giấy công tác lưu không, có đầy đủ chữ ký và con dấu đỏ chót. Riêng phần tên tuổi, lý do đi công tác và thời hạn công tác thì vẫn còn để trống.



Thú thực, khi cầm cả xấp giấy công tác lưu không, có chữ ký con dấu và được in ấn đàng hoàng, tôi mừng run lên, không tin được BL lại có thể tài ba qua mặt được “thủ trưởng” một cách tài tình như vậy. Tôi đếm đi đếm lại, để rồi thấy lòng mình mừng rơn, quả thiệt, 10 tờ giấy công tác lưu không nằm sẵn trước mắt tôi, chờ đợi…



Sau một hồi suy nghĩ tính toán, tôi cẩn thận trao cho chị tôi hai tờ và nói:



- Đây là giấy công tác đã đóng dấu và ký tên, anh bạn của em vừa lo cho em, chị cầm lấy rồi đưa cho hai cháu và dặn kỹ, chúng nó chỉ được dùng giấy này đúng vào ngày lên đường rời Sàigòn đi vượt biên với em.



Cầm hai tờ giấy công tác, đóng dấu đỏ chói, chị tôi cũng mừng rỡ, xuýt xoa liên tục. Tôi nói tiếp:



- Còn đây là một tờ giấy công tác lưu không cho em, em phải điền tên vô để dùng ngay bây giờ vì hiện tại em không có giấy tờ gì cả, rất nguy hiểm, có thể bị chúng bắt giữ bất cứ lúc nào. Đây là tờ giấy lưu không em sẽ dùng khi bắt đầu đi vượt biên cùng với các cháu. Nội dung công tác, thời hạn công tác trên tờ giấy này sẽ phải giống y hệt hai tờ giấy công tác của hai cháu. Chuyện này em sẽ bàn thiệt kỹ với chúng nó sau. Còn lại 6 tờ… Bây giờ chị lấy cho em hai túi nylon thật tốt để em gói những giấy tờ lưu không còn lại này để đề phòng, có thể dùng trong tương lai.



Chị tôi ngạc nhiên, không hiểu hỏi:



- Sao cậu phải giữ lại để dùng trong tương lai?



Tôi thì thầm giải thích:



- Em và các cháu đi vượt biên không biết thành công hay thất bại. Thành công ra đến ngoại quốc thì không nói làm gì. Nhưng nếu thất bại, bị chúng nó bắt, trước sau gì em và hai cháu cũng phải tìm cách trốn thoát. Trốn thoát ra rồi, tụi em phải tìm cách về đây lấy những giấy tờ này để vượt biên tiếp…



Chị tôi gật đầu, hiểu tôi nói gì, nên vội đề nghị:



- Như vậy cậu đưa tất cả cho tôi giữ, tôi sẽ cất vào một chỗ thật an toàn…



Tôi lắc đầu:



- Chị không cần phải cất ở chỗ nào thật kín đáo, an toàn. Sáu tờ giấy công tác lưu không này sẽ được em gói vào hai tờ nylon thật tốt, rồi chờ lúc thuận tiện, em sẽ giấu ngay trong hốc gạch trước nhà một gói, và trong vườn sau nhà một gói. Cả hai chỗ đó, chị, em và các cháu đều biết. Như vậy, phòng khi em, hay các cháu vượt biên không thành công, phải trở lại đây, thì bất cứ lúc nào, dù chị có ở nhà hay không, hay nhà này đã đổi chủ, chúng em cũng đều có thể lấy được những giấy tờ này để dùng. Em phải tách ra làm hai gói là đề phòng, lỡ gói này bị mất thì còn gói khác để phòng thân…



KỲ 62



Cuộc sống của tôi lúc này ở Sàigòn có vẻ an toàn hơn vì tôi đã có giấy tờ tuỳ thân. Dùng những giấy tờ đó, tôi có thể tạm thời qua mặt các trạm kiểm soát giao thông của bộ đội, công an. Tuy nhiên, tôi vẫn hạn chế việc đi lại của mình vì ngại gặp người quen. Thời thế thay đổi, lòng người có thể thay đổi theo. Thêm nữa, tôi đã từng sống trong chế độ cộng sản, nên tôi hiểu, người cộng sản với thủ đoạn nham hiểm và độc ác, họ sẽ đẩy những người dân hiền lành vào những hoàn cảnh hiểm nghèo, phải làm những chuyện họ không muốn. Đáng lo ngại hơn nữa, trong thời gian bị giam giữ tại Quân lao Gò Vấp, rất nhiều vệ binh, quản giáo đã biết rõ mặt tôi. Những vệ binh, quản giáo này đều thuộc phòng quân pháp, đồn trú tại bộ Tổng Tham Mưu VNCH cũ và thường xuyên xuất hiện trong khu vực Phú Nhuận. Nếu tôi đi lại nhiều, sẽ dễ có nguy cơ gặp gỡ những tên vệ binh quản giáo đó và sẽ bị chúng nhận diện, bắt giữ.



Để bảo đảm an toàn, tôi không ăn ngủ ở một nơi nào nhất định tại Sàigòn. Tôi tránh không ghé thăm gia đình bà chị, là nơi tôi ở trước khi tôi bị bắt. Tôi chỉ ẩn náu ở những gia đình biết rõ hoàn cảnh của tôi, và tôi hoàn toàn tin tưởng là cộng sản không hề biết đến mối quan hệ giữa tôi với những gia đình đó. Lúc đó, tại Sàigòn, may mắn có bốn gia đình sẵn sàng cưu mang, giúp đỡ tôi bất cứ lúc nào, mà cộng sản không hề hay biết. Đó là một gia đình ở Thị Nghè, một gia đình ở khu Đa Kao, một gia đình ở vùng Bà Chiểu và một gia đình ở chợ Trương Minh Giảng. Ngoài ra, ông cụ thân sinh ra BL cũng rất yêu thương tôi, sẵn sàng cưu mang tôi, nhưng vì nhà cụ ở ngay trong một con đường cụt, nơi tụi vệ binh quản giáo thường xuyên đi lại, nên tôi không dám



tới làm phiền cụ. Quả nhiên, nỗi lo ngại của tôi đã trở thành sự thực khi tôi phải ghé vô nhà cụ để lấy địa bàn và bản đồ, vào một buổi chiều, đúng hai tuần sau khi tôi gặp BL. Trước khi kể lại câu chuyện tôi suýt bị bắt lại ở ngay cổng hai Bộ Tổng Tham Mưu cũ, tôi xin kể về chuyện tôi đang tá túc tại một gia đình ở Thị Nghè thì bị bố ráp bất ngờ vào lúc gần giờ giới nghiêm, nên tôi phải trốn khỏi Thị Nghè và tìm đến nhà ông Tâm ở chợ Trương Minh Giảng để tá túc. Câu chuyện đầu đuôi như thế này.



Lúc đó, gia đình cho tôi ẩn náu ở vùng Thị Nghè, nằm trong một căn hẻm. Đó là một gia đình rất đức hạnh và ngoan đạo. Ông cụ đã qua đời từ lâu, còn lại có bà cụ và ba người con gái, hai người con trai. Một anh xuất thân võ bị Đà Lạt, sau 1975 phải đi học tập cải tạo. Còn anh cả làm việc gì thì tôi không rõ, nhưng mỗi khi tôi ghé thăm, đều gặp anh ở nhà. Gia đình hiểu rất rõ hoàn cảnh của tôi và rất thương yêu tôi, vì ngay khi tôi mới chuyển về Trung Tâm Chiêu Hồi Thị Nghè, ông VL, một nhân viên của Trung Tâm, đã dắt tôi đi chơi đó đây, rồi ghé thăm gia đình cụ. Qua lời kể của cụ, tôi được biết, gia đình cụ cũng là nạn nhân của cộng sản từ những năm đầu thập niên 1950, nên đã di cư vô Nam hồi năm 1954. Vì vậy, cụ hiểu rất rõ về cộng sản, và thương yêu tôi như con. Sau này, ngay khi trốn trại tù Kàtum, trở về được Sàigòn, tôi đã tìm đến gia đình cụ và được cụ bao bọc, giúp đỡ, dù hoàn cảnh của gia đình cụ sau 1975 vô cùng khốn khó.



Thời gian được cụ cho tá túc, tôi thường ở trên một căn gác xép, rất kín đáo. Từ căn gác xép có hai cửa sổ, trông ra hai phía. Cửa sổ có thể mở dễ dàng. Anh con trai của cụ vẫn dặn tôi, nếu dưới nhà có động, hay có chuyện gì bất lợi, cứ để cho anh và gia đình thu xếp. Còn tôi cứ việc mở cửa sổ, leo ra ngoài, nhẹ nhàng đi trên các mái ngói rồi tụt xuống đường mà tẩu thoát.



Buổi tối hôm đó, khoảng 10 giờ hơn, tôi đang nằm xem sách ở trên lầu, chờ bữa cơm tối, cụ sẽ cho người bưng lên lầu, thì tôi nghe có tiếng gõ cửa ầm ĩ, rồi tiếng la hét rất lớn, rất hách dịch, “Mở cửa! Mở cửa!” Tôi ở tận trên lầu còn nghe rõ mồn một. Nghe tiếng hét như vậy, tôi biết ngay là có chuyện bất thường. Vội vàng tôi ghé mắt qua khe ván, nhìn ra phía trước. Từ trên cao, qua khe ván nhỏ, tôi nhìn thấy dọc theo con hẻm nhỏ có đến mấy chục tên bộ đội cùng với những người mặc đồ dân sự, nhưng trên cánh tay có đeo băng đỏ. Loại người này được người dân Miền Nam gọi là tụi “cách mạng 30″. Thì ra, cả con hẻm lúc đó đang bị tụi VC bố ráp đột ngột. Chuyện này, tôi đã đề phòng và bàn bạc rất kỹ với cụ và anh con trai của cụ, nên tôi rất bình tĩnh. Vì giấy tờ tuỳ thân của tôi do anh BL đưa chỉ có giá trị đi lại trên đường khi công tác, nên không hợp lệ khi đang cư ngụ trong một gia đình nếu gia đình đó không trình báo uỷ ban phường. Đối với những gia đình tôi đang cư ngụ lúc đó lại ở ngay Sàigòn, cách “cơ quan chủ quản” cấp giấy không bao xa, thì việc trình giấy là điều không hợp lý và nguy hiểm, chẳng khác chi “lậy ông tôi ở bụi này”. Do đó, mỗi khi cư ngụ ở nhà ai tại Sàigòn, tôi đều nằm trong tình trạng cư ngụ bất hợp pháp, và tôi phải trốn khỏi nơi đó ngay khi có sự bố ráp, xét sổ gia đình. Để bảo đảm trong khi vội vã trốn khỏi nơi đó, không để lại bất cứ vết tích gì của mình, tôi không bao giờ có hành trang hay đồ dùng cá nhân.



Trở lại tối khuya hôm đó, thấy tình thế nguy hiểm, tội vội nhìn lại căn gác xép lần cuối, bảo đảm không còn dấu vết gì khả nghi, rồi nhanh chóng mở cửa sổ, nhẹ nhàng chui ra bên ngoài. Sau đó, tôi đóng cửa, kéo chốt khoá lại bằng sợi dây dù nhỏ giấu kín bên mép cửa sổ. Ngoài trời tối đen, tôi nép mình dễ dàng trong bóng đêm. Theo kế hoạch đã bàn bạc, tôi có thể ẩn mình bên ngoài chờ cuộc bố ráp, xét sổ gia đình xong, tôi sẽ chui vô trở lại. Nhưng từ trên cao, nhìn quang cảnh bố ráp bao trùm cả con hẻm, chạy dài cho đến chợ Thị Nghè, và không khí của cuộc bố ráp rất căng thẳng, gắt gao nên tôi vội bò đi một đoạn thật xa, rồi tụt xuống đường, gọi xe ôm đến



nhà bà chị ở cư xá Chu Mạnh Trinh. Xui xẻo cho tôi, tối hôm đó, cả gia đình bà chị đi vắng, nên tôi phải chạy lại nhà ông Tâm ở cạnh chợ Trương Minh Giảng.



Ông Tâm là người Bắc di cư vô Nam, rất am tường về chủ nghĩa cộng sản và căm thù cộng sản. Theo lời ông kể, vào năm 1945, ông đang sống ở Hà Nội thì chứng kiến người cộng sản cướp chính quyền, nên ông đã dại dột trốn cha mẹ đi theo Việt Minh. Trước khi đi, ông còn đập vỡ chiếc nồi đất bằng sành, lấy hết số vàng lá mà cha mẹ của ông đã giấu trong đó để đem nộp cho “cách mạng”. Sau thời gian hai năm đi theo Việt Minh, ông mới hiểu rõ cộng sản là gì, nên ông đã từ bỏ cộng sản “dinh T”, trở về Hà Nội. Khi đó, ông cụ thân sinh ra ông vốn là đảng viên Quốc Dân Đảng nên đã bị Việt Minh giết chết trong vụ thảm sát Ôn Như Hầu. Trước khi chết, ông cụ còn để lại mảnh giấy nói vợ và các con cố gắng tìm kiếm ông Tâm, thuyết phục ông đừng đi theo Việt Minh. Qua đau lòng trước cái chết của thân phụ, cộng với những kinh nghiệm kinh hoàng của ông về cộng sản, nên năm 1954, ông Tâm cùng với mẹ và cả gia đình vội vã trốn ra Hải Phòng để di cư vô Nam. Tại Hải Phòng, ông Tâm quen biết chị của tôi và hai gia đình đã chơi thân với nhau từ ngày đó.



Sau khi vô được Miền Nam, tôi thường được chị tôi dắt đến thăm ông Tâm và lần nào cũng ở lại ăn cơm tối với gia đình, nên chúng tôi có rất nhiều thì giờ để trò chuyện tâm sự. Tôi rất thích nghe ông kể về cuộc đời chìm nổi, ngang dọc của ông, và ông cũng rất thích nghe tôi kể về những chuyện xảy ra ở Miền Bắc từ sau năm 1954.



Ông Tâm cao to, nước da trắng trẻo, cử chỉ đường bệ, trong khung cảnh nhà cửa sang trọng, nên lời ông nói rất thuyết phục. Mỗi khi nói chuyện, hay nghe người khác nói, ông có thói quen hay nói đệm “vậy hả, vậy hả”. Bà Tâm vợ của ông thì rất hiền lành, nhu mì, tuân phục chồng mọi chuyện từ trong nhà cho đến ngoài đường. Mỗi khi tiếp khách, bao giờ bà cũng ngồi ở vị trí khiêm tốn, hoặc đằng sau ông, hoặc ngồi ở chiếc ghế thấp hơn ông một chút.



Vì tin tưởng ông Tâm là người chống cộng, nên theo lời khuyên của chị tôi, và được chị gửi gắm với ông, tôi đã đôi lần ghé lại nhà của ông Tâm ẩn náu. Ông Tâm là người rất chịu chơi. Trước 1975, mỗi khi đến gặp ông, qua phong thái và lối trò chuyện của ông, tôi chỉ nghĩ ông là một công chức cao cấp. Nhưng sau 1975, khi gặp hoạn nạn, vượt ngục trở về Sàigòn, ghé nhà ông tá túc, tôi mới thấy được bản lãnh giang hồ của ông. Ông cho tôi ở trên căn gác xép trên lầu, và chỉ dẫn đường đi nước bước, mỗi khi có chuyện nguy hiểm. Ông còn chỉ chỗ cho tôi giấu chiếc chìa khoá cửa ở ngay ngoài nhà, để tôi có thể đến nhà ông ẩn náu bất cứ lúc nào, ngày cũng như đêm, cho dù ông và gia đình không có ai ở nhà.



Đêm hôm đó, tôi đi xe ôm đến nhà ông. Cẩn thận, tôi xuống xe ôm ngay ngoài đường Trương Minh Giảng, rồi đi bộ vô nhà. Lúc đó đã gần 12 giờ đêm, giờ giới nghiêm, nên đường phố rất vắng. Con hẻm dẫn vô nhà ông cũng không còn người đi lại. Đến trước nhà của ông, tôi thấy trong nhà tối om. Vì tôi và ông đã thống nhất với nhau từ trước, nên tôi không bấm chuông, chỉ gõ cửa theo đúng ám hiệu, ba nhanh hai chậm. Gõ xong, tôi im lặng đứng chờ. Nếu không có ai ở nhà, tôi sẽ lấy chìa khoá, mở cửa vô nhà, ngủ tạm qua đêm, đến sáng mai tính.



Khoảng hai phút trôi qua, không nghe động tĩnh gì, tôi đang tính gõ cửa lần nữa thì nghe có tiếng chân người từ trên cầu thang đi xuống. Sau đó, tiếng ông Tâm hỏi, thì thầm nhưng chậm rãi, rõ ràng:



- Cậu Chí đấy hả?



Tôi mừng quá, vội thưa:



- Dạ, em Chí đây!



Sau đó có tiếng lách cách mở khoá từ phía bên trong. Cách cửa mở hé, vừa đủ cho tôi lách vô. Ông Tâm đóng cửa, khoá lại cẩn thận, rồi quay qua tôi nói:



- Cậu theo tôi…



Nói xong, ông đi lên cầu thang. Tôi lặng lẽ đi theo. Lên đến căn gác xép trên cùng, ông chỉ vô chiếc giường tôi vẫn nằm mỗi khi ghé lại nhà ông, và nói:



- Tất cả còn y nguyên, chờ cậu… Cậu ngồi xuống đó đi. Sao, cậu đã ăn uống gì chưa?



Tôi thành thực:



- Thưa chưa. Em đang chờ ăn tối thì bị chúng bố ráp, phải chạy vội sang đây nhờ anh.



Ông Tâm là người lớn tuổi, đáng bậc cha chú. Nhưng vì là bạn thân với chị tôi, nên ông coi tôi như em, và tôi vẫn gọi ông là anh, xưng em.



Ông Tâm vỗ vai tôi thân mật:



- Nhờ vả gì đâu. Chị cậu trước đây giúp tôi những chuyện to như núi, mà tôi đâu có trả ơn được gì. Bây giờ, cậu đi tắm rửa, rồi ăn tạm mì gói. Khuya rồi nên tôi chả dám đánh thức chị, sợ tụi hàng xóm nó để ý, phiền phức lắm…



Tôi tắm xong, ra ngồi trên giường, kéo chiếc bàn nhỏ lại cạnh, vừa ăn mì vừa nghe ông Tâm kể chuyện. Từ những chuyện buồn cười về những sự ngớ ngẩn của bộ đội khi vô Nam đến những tin tức phong phanh về phong trào phục quốc đang lớn mạnh trong rừng, đến chuyện Mỹ sẽ trở lại Miền Nam trong một ngày không xa, vân vân. Ông Tâm cũng kể cho tôi nghe những tính toán khôn ngoan của ông về cách vượt biên, phòng khi thất bại phải trở về thì vẫn còn nhà cửa để ở.



Ông Tâm là người khôn ngoan, biết tính toán, lại hào hiệp, sẵn sàng bỏ tiền, bỏ vàng giúp đỡ cho mấy người con của chị tôi đi vượt biên. Nhưng không hiểu vì lý do gì, chị tôi nhất định không chịu. Vì vậy, tôi cũng không dám nhận sự giúp đỡ của ông, mặc dù nhiều lần, ông nói, sẵn sàng cho tôi đi chung tàu với gia đình ông.



Sáng sớm hôm sau, tôi còn đang say ngủ thì ông Tâm vội đánh thức tôi dậy và cho tôi biết, chị tôi đến tìm. Biết ngay có tin quan trọng, tội vội vàng nhảy ra khỏi giường, tính xuống lầu, thì đã thấy chị tôi đi lên. Chị tôi nói ngay:



- Có một “ông” tên là BL đến tìm cậu.



Tôi giật mình, vì trong những lần nói chuyện với BL, tôi không hề đả động gì đến bà chị của tôi và cũng không nói đến địa chỉ của bà. Như vậy sao BL lại biết? Tôi đang tính tìm cách liên lạc với BL để hỏi về địa bàn, bản đồ, thì nay BL tìm đến bà chị của tôi là thế nào? Tôi lo lắng hỏi:



- BL có nói tìm em làm gì không?



Chị tôi mỉm cười:



- Nói thiệt với cậu, BL với chị là bạn hàng trước bán thuốc tây ở chợ trời. Sau cũng nhiều lần BL cùng lo mối lái vượt biên, nên quen thân với chị. Chị đâu biết cậu đang nhờ vả BL. Đến khi nói chuyện với BL về cậu, chị mới biết, chính BL là người đã lo giấy tờ cho cậu. Tối qua, BL có đến nhà chị tìm cậu, nhưng không gặp. BL có nhắn với chị là bản đồ địa bàn đã có, cậu ghé ngay vô nhà ba của BL vào trưa Thứ Bảy tuần này để lấy.



Nghe vậy tôi mừng quá. Cho đến hiện tại, chuyến đi của tôi và hai đứa cháu đã sẵn sàng tất cả, chỉ còn đợi có địa bàn, bản đồ. Nay BL đã lo được cả hai thứ đó, và nếu tôi có được chúng trên tay vào trưa Thứ Bảy, thì chúng tôi sẽ khởi hành ngay sáng Thứ Hai, trên chuyến xe đò từ Sàigòn ra Huế.



Nhưng bên cạnh niềm vui mừng, tôi cũng có những lo ngại. Nhà của ba của BL ở cổng hai Bộ Tổng Tham Mưu cũ. Đây là nơi những tên bộ đội, quản giáo thuộc phòng quân pháp cộng sản thường lai vãng nhất là vào ngày Thứ Bảy, Chủ Nhật. Trong số đó, có những tên trông coi Quân lao Gò Vấp, từng biết mặt tôi rất rõ. Nếu đến đó vào trưa Thứ Bảy, chẳng may, chạm trán bọn chúng trong ngõ hẹp này, tôi sẽ dễ dàng bị chúng tóm gọn. Nhưng nếu lần khân, tìm cách gặp BL để rời ngày lấy địa bàn, bản đồ sang một ngày khác, biết đâu tôi sẽ gặp những trục trặc bất ngờ khác.



Sau một hồi suy nghĩ, tôi quyết định, sẽ đến nhà ba của BL vào đúng trưa Thứ Bảy để lấy bản đồ và địa bàn. Đây là một quyết định vội vàng, đưa tôi đến những nguy hiểm



bất ngờ, khiến tôi suýt bị những tên vệ binh VC bắt sống ngay chiều Thứ Bảy. Nhưng không ngờ, đằng sau những nguy hiểm chết người đó, tôi lại một lần nữa được những người mẹ, những người chị của Miền Nam tự do, tận tình giúp đỡ và cứu thoát trên suốt chặng đường từ Võ Tánh đến Trương Minh Giảng…



KỲ 63



Trong những ngày tháng sau khi trốn khỏi trại cải tạo Kàtum, trở về Sàigòn, tôi có quen một số người bạn, trong đó có P., một người đã biết rõ hoàn cảnh khốn khổ của tôi… Với tấm lòng đôn hậu, đa cảm, thương người của một người sinh ra và lớn lên ở Miền Nam, P. đã giúp đỡ tôi rất nhiều, bất chấp nguy hiểm và sự can ngăn của gia đình. Vì tin tưởng ở P., nên vào trưa Thứ Bảy, khi ghé nhà ba của BL để lấy địa bàn và bản đồ, tôi đã hẹn P. cùng đi. Sống trong cảnh vượt ngục, lường trước những nguy hiểm có thể đến bất cứ lúc nào, nên tôi đã dặn P. đi cách xa tôi khoảng chục thước. Nếu thấy công an, bộ đội xét hỏi giấy tờ, hay bắt giữ tôi, thì P. cứ bình tĩnh coi tôi như người dưng, để khỏi bị liên luỵ. Sau đó sớm muộn gì, tôi cũng trốn thoát, và sẽ gặp lại nhau.



Vì nhà của ba của BL ở trong cổng 2 bộ Tổng Tham Mưu, là con đường vắng vẻ, chỉ có một bên là nhà, nơi đó lại có nhiều bộ đội, vệ binh, quản giáo hay qua lại, nên tôi dặn P. đứng chờ tôi ở ngay chỗ đối diện tiệm Phở Quyền, gần ngã tư Phú Nhuận, Võ Tánh. Vùng Phú Nhuận có 2 tiệm phở nối tiếng là Phở Quyền và Phở Bắc Huỳnh. Tôi nghe P. nói chủ của tiệm Phở Bắc Huỳnh trước 1975 là chủ tiệm Phở Ga ở Đà Lạt. Tiệm Phở Huỳnh thì ở phía dưới, qua đồn cảnh sát quận Tân Bình một đoạn, đối diện nhà thờ Nam, ngay đường Trương Tấn Bửu đổ ra. Ngay đêm tôi bị bắt, mấy tên bộ đội đã không giải tôi đi thẳng đường Võ Di Nguy đến nhà làng là nơi tạm giam, mà giải tôi đi bộ trong hẻm, trổ ra đường Võ Tánh, cách tiệm Phở Huỳnh không xa. Lúc đó trời đã khuya, nhưng vẫn còn một số khách đang ăn ở những bàn ăn bên ngoài tiệm. Khi thấy tôi bị còng, bị trói giật cánh khuỷu, do mấy người bộ đội giải qua, có người huýt sáo. Khi đi qua, tôi nhận ra ra hai người quen, từng có lần uống cà phê ở quán Hồ Hải và đi chơi chợ tết với nhau. Cả hai đều sững sờ, ngạc nhiên khi thấy tôi… Thấy vậy, tôi vẫn giữ nét mặt thản nhiên, coi như không quen biết, để khỏi liên luỵ đến nhau.



Hôm nay trở lại con đường xưa, qua tiệm Phở Huỳnh, tôi thấy khách khứa vẫn tấp nập, trong đó thấp thoáng có nhiều bộ đội. Nhìn sang bên kia đường, là đường Trương Tấn Bửu, nơi trước đây nổi tiếng với các quán nhậu rất đông khách sau giờ tan sở. Nhà thờ Nam vẫn còn đó, nhưng tôi biết, cùng với gót giầy xâm lăng của người cộng sản, tất cả nhà thờ, chùa chiền, trên lãnh thổ Miền Nam đều bị bao vây, và tất cả những con chiên, phật tử ngoan đạo, cũng đang phải tìm mọi cách chống chọi quyết liệt với cộng sản để bảo vệ đức tin của mình. Và tất cả những thảm kịch đó chỉ mới là bắt đầu của cả một đại bi kịch, Miền Nam phải gánh chịu.



Tôi bước vào trong nhà của ba BL đúng 12 giờ trưa Thứ Bảy. Nhìn quang cảnh tiêu điều, đồ đạc sơ sài trong phòng khách, tôi thầm xót xa cho gia đình trong cuộc đổi đời. Gia đình của BL trước 1975 thuộc loại khá giả. Nhưng kể từ sau 30 tháng 4, 1975, gia đình BL cũng giống như tất cả những gia đình khá giả trên lãnh thổ Miền Nam đều bị khánh tận và trở thành kẻ thù của người cộng sản. Mọi đồ đạc trong nhà nếu không lọt vô tay cán bộ, bộ đội cộng sản, thì cũng đều lần lượt ra chợ trời đi tìm chủ mới…



Ba của BL là một người đàn ông tuổi ngoài 50, thân hình quắc thước, ánh mắt sắc bén, kiến thức uyên bác và nói chuyện rất hay. Sau khi rót nước trà mời tôi, ông hỏi ngay:



- Nghe cháu nó nói, cậu định vượt biên bằng đường bộ?



Tôi đáp:



- Dạ thưa bác, hoàn cảnh của cháu quá nghèo, nên chỉ có cách vượt biên bằng đường bộ thôi.



Ông mỉm cười:



- Vượt biên đường bộ cũng có năm, bảy đường. Cậu định đi theo đường nào?



Tôi thật thà thưa:



- Dạ, cháu định vượt biên qua ngả Đông Hà, Quảng Trị, rồi sang Lào, Thái.



Ông gật gù một hồi, rồi nói:



- Chuyện vượt biên là chuyện vô cùng hệ trọng. Cậu đã tính như vậy, chắc chắn cậu đã suy nghĩ kỹ lắm rồi, nên tôi không dám nói gì thêm. Hoàn cảnh của tôi bây giờ, cũng rất khốn khó, nên chẳng giúp được cậu điều gì. Thôi thì chỉ biết lòng thành, chúc cậu lên đường gặp nhiều may mắn.



Tôi xúc động:



- Cháu cảm ơn bác. Thưa thực với bác, cháu phải chọn con đường đó vì trước khi về hồi chánh, cháu đã từng đóng quân ngay ở vùng đó, nên cháu cũng biết sơ sơ đường xá từ Đông Hà sang Lào. Nay nghe bác nói vượt biên đường bộ cũng có năm bảy đường, cháu xin bác chỉ cho cháu những con đường khác…



Ông im lặng kéo chiếc điếu cầy, hút một điếu thuốc lào, hãm bằng ngụm nước trà. Xong ông ngửa cổ, nhả khói trông thật ngon lành, rồi tiếp:



- Nghe thằng con tôi nó nói nhiều về cậu nên tôi biết cậu gian truân, vất vả từ bé đến lớn. Nay trong hoàn cảnh của cậu, cậu phải lao vào cái chết để tìm cái sống. Cái hoàn cảnh của cậu không giống như chúng tôi. Chúng tôi nếu không vượt biên thì cũng vẫn sống, dù không được tự do, sung sướng như trước, nhưng cũng không phải đến nỗi tù tội cho đến mọt gông như cậu. Cái thế của cậu đã vậy thì không cần phải bàn cãi gì nữa, phải vậy không nào?



Tôi lễ phép:



- Dạ. Bác dậy rất đúng.



Ông nói tiếp:



- Bây giờ cậu đã có lòng hỏi, tôi biết mà không nói thì có lỗi. Vì vậy nói ra có điều gì không vừa ý, cậu cứ bỏ qua, coi như chưa nghe tôi nói gì là được. Cậu định vượt biên đường bộ mà đi đường Đông Hà, Quảng Trị rồi sang Lào là thiên nan vạn nan. Chỉ nguyên cái đoạn đường từ Đông Hà đến biên giới là cũng nguy hiểm lắm, vì cậu lạ nước, lạ cái. Rồi từ biên giới đi băng ngang nước Lào sang đến biên giới Lào Thái cũng chẳng có dễ dàng gì. Vẫn biết, cậu từng là bộ đội, trước đóng quân ở đó, nhưng cái biết của cậu là cái biết của người cưỡi ngựa xem hoa mà thôi. Còn bảo biết để có thể cắt rừng lội suối, trèo đèo, vượt núi, cả mấy trăm cây số đường rừng, thì biết vậy chưa đủ. Theo tôi, cũng vượt biên đường bộ, tốn kém lại không nhiều, mà lại tận dụng được cái sở kiến của cậu, có hai con đường vượt biên khác, dễ cho cậu nhiều lắm…



Nói đến đây, ông nhìn tôi im lặng. Tôi cũng im lặng, nhưng trong lòng rất sốt ruột, không biết hai con đường vượt biên mà ông định nói là con đường nào. Sốt ruột nhưng tôi không tiện thúc dục ông.



Sau một lúc im lặng, ông tiếp:



- Cậu sinh và lớn lên ở Miền Bắc, cậu hiểu thủy thổ, phong tục, tập quán của người Miền Bắc, tại sao cậu không vượt biên theo đường Lạng Sơn, hoặc Móng Cái?



Tội giật mình, quả thật đây là điều tôi không hề nghĩ tới từ xưa đến nay. Ba của BL lại tiếp:



- Tôi nghe BL kể, ngay tháng 5 năm 1975, cậu đã dùng giấy tờ giả đi về Hà Nội, rồi từ Hà Nội cậu lại vô đây bình yên?



- Dạ, thưa bác, đúng vậy.



- Nếu vậy, tại sao cậu không dùng giấy tờ giả đi ra tận Lạng Sơn, hay Móng Cái, rồi ở đó tìm đường vượt biên qua biên giới Việt Trung?



Tôi ngần ngại:



- Dạ thưa bác, cháu sợ, Trung cộng cũng là cộng sản, nếu cháu vượt biên sang đó, họ sẽ bắt cháu trả lại cho tụi cộng sản Việt Nam.



Ông lắc đầu:



- Tôi thì tôi lại nghĩ khác. Cậu phải hiểu, Trung cộng với Việt cộng tuy cũng là cộng sản, nhưng hiện tại không phải là chúng không có mâu thuẫn sinh tử. Tôi có thằng cháu họ, ở ngoài Bắc, nó cũng làm cỡ chính uỷ sư đoàn, nó vô thăm kể cho tôi nghe tình hình mâu thuẫn giữa Trung cộng và Việt cộng như nước với lửa đã kéo dài cả chục năm nay rồi, từ thời ông Nixon viếng thăm Bắc Kinh lận. Tôi còn nghe, từ đầu thập niên 1970, Trung cộng đã không chịu tiếp tế vũ khí và gạo cho Việt cộng. Chuyện đó chắc cậu cũng biết?



- Dạ, chuyện đó cháu có nghe.



Ông mỉm cười:



- Tôi còn nghe thằng cháu nó nói, lúc đó để giữ cho lòng dân khỏi hoang mang, cho mọi người tin tưởng là Trung cộng vẫn là hậu phương lớn của cộng sản Việt Nam, và tình hữu nghị “môi hở răng lạnh” giữa hai nước vẫn đời đời bền vững, Việt cộng đã dùng gạo của Việt Nam, đổ vô các bao có chữ Tàu và quốc huy của Trung cộng, rồi cho triển lãm khắp mọi nơi.



Tôi ngạc nhiên:



- Dạ chuyện đó cháu cũng nghe nói, nhưng vì lúc đó cháu đã vô Nam rồi, nên không biết thực hư thế nào. Mà sao bác biết chuyện đó hay vậy?



- Thì cũng thằng cháu nó vô đây nó nói. Nó làm to ở ngoài Bắc nên nó biết những mâu thuẫn, những uẩn khúc bên trong cái “hữu nghị” của chúng. Còn lính tráng bộ đội quèn như cậu thì chỉ nghe nói, chứ đâu có biết thực hư ra làm sao. Trở lại cái chuyện vượt biên đường bộ của cậu, cậu thấy tôi nói vậy có đúng không? Giấy tờ giả thì bảo BL nó lo cho đầy đủ đâu vào đấy. Còn việc trà trộn, leo tàu, nhảy xe, cậu quá rành. Cậu cứ nghe tôi, đi tàu chợ từng đoạn, từng đoạn theo lối sâu đo, từ Sàigòn cậu sẽ ra tận Hà Nội một cách dễ dàng. Sau đó, từ Hà Nội cậu đi Lạng Sơn, hay Móng Cái, cũng theo kiểu đi tàu chợ, vì có đường xe lửa từ Hà Nội đi Lạng Sơn, nên rất dễ cho cậu. Còn nếu cậu tính đi Móng Cái thì đáp tàu chợ từ Hà Nội đi Hải Phòng, rồi từ Hải Phòng cậu đáp xe đò đi Móng Cái. Tôi nghe người ta nói, cửa biên giới Việt Trung ở Móng Cái chỉ là một cái cầu bắc qua sông Kalong. Nếu cậu không đi qua cầu được thì tại sao cậu không bơi qua sông Kalong? À mà cậu có biết bơi không nhỉ?



- Dạ, cháu biết.



Ông cười vui vẻ:



- Nếu vậy thì tốt quá. Chỉ sợ cậu không biết bơi, chứ đã biết bơi, thì vượt biên bằng cách bơi qua sông Kalong đâu có gì khó.



Nghe ông nói vậy, tự dưng tôi thấy mừng rỡ vô cùng. Thị xã Móng Cái là cửa khẩu của Việt Nam, bên kia là thị xã Đông Hưng của Trung cộng. Hai nước cách nhau con sông Kalong. Sông Kalong chạy dài theo hướng Tây Đông và là biên giới thiên nhiên giữa hai nước. Nếu tôi đặt chân đến Móng Cái an toàn, chỉ cần đợi đêm xuống, tôi đi dọc theo sông Móng Cái, thế nào tôi cũng tìm ra được đoạn an toàn, và bơi qua sông dễ dàng.



Mừng quá, tôi vội nói:



- Ý kiến của bác rất hay. Để cháu về bàn với hai đứa cháu…



Ông ngạc nhiên:



- Ủa, như vậy là cậu không có vượt biên một mình à?



Tôi thú thực:



- Thưa bác, cháu vượt biên cùng với hai đứa cháu gọi bằng cậu.



- Hai đứa ở trong Nam?



- Dạ, chị cháu di cư năm 1954, nhưng cả hai đứa đều sanh ở trong Nam.



Ông lắc đầu quầy quậy:



- Như vậy thì không được, không được. Vượt biên bằng đường bộ, đi cả ngàn cây số ở Miền Bắc, chỉ có người nào sinh ra và lớn lên ở Miền Bắc thì mới dễ trà trộn và may ra thành công. Chứ còn người Miền Nam mà đi trên đất Bắc, bảo đảm, không sớm thì muộn cũng sẽ bị lộ. Theo tôi, cậu chỉ có thể vượt biên qua một trong hai ngả Lạng Sơn hoặc Móng Cái, một mình cậu mà thôi. Một mình thì may ra thành công. Còn đi với hai cái đuôi đó, thì chỉ có mang họa. Tốt nhất là đừng đi.



Lời của ông nói rất chí lý. Tôi biết chắc chắn, nếu tôi để cho hai đứa cháu cùng đi với tôi ra đất Bắc, chuyến vượt biên của chúng tôi sẽ thất bại. Vả lại, tuy ông phân tích về mâu thuẫn giữa Trung cộng và Việt cộng, nghe rất hợp lý, nhưng ngay lúc đó, vào thời điểm 1978, tôi vẫn còn ngây thơ, không tin, Trung cộng sẽ chấp nhận và dung dưỡng cho những người Việt Nam vượt biên tỵ nạn cộng sản. Tôi không tin Trung cộng và Việt cộng sẽ coi nhau như tử thù. Tin như vậy, nhưng tôi không nói ra, sợ phật ý ông.



Nhìn vẻ mặt của tôi, có lẽ ông đoán được phần nào những suy nghĩ của tôi. Ông nói:



- Tôi nói là nói vậy thôi, còn quyết định đi với ai, đi đường nào là do cậu.



Nói đến đó, ông đứng dậy, lấy từ trong tủ, một cái túi da, có dây cột ở đầu rất cẩn thận. Để chiếc túi da trên bàn, ông nó:



- Trong chiếc túi này là hai chiếc địa bàn và 4 tấm bản đồ chi tiết toàn vùng Quảng Trị, Lào và Thái Lan. Tôi đã cẩn thận bọc plastic cả 4 tấm để phòng mưa gió. Chuyện tiền bạc, cậu khỏi lo. Gọi là một chút giúp cậu. Có điều, tôi nghĩ cậu không nên cầm những thứ này về trong lúc này. Lỡ có chuyện gì, chúng bắt được là chết. Thôi thì cậu cứ để đây tôi giữ. Cậu cho tôi địa chỉ bà chị của cậu, tôi sẽ bảo thằng BL hay con KO nó mang đến tận nơi cho cậu. Như vậy an toàn hơn. Cậu thấy thế nào?



Thú thực, lúc đó, thấy chiếc túi, trong đó có bản đồ và hai chiếc địa bàn, tôi rất mừng, chỉ muốn cầm nó trong tay cho chắc ăn. Nhưng thấy lời của ông nói rất hữu lý, cộng với hình ảnh đám vệ binh, quản giáo hiện đang lảng vảng đi lại, ăn chơi, dọc đường Võ Tánh, nên tôi đồng ý:



- Cảm ơn bác đã giúp cháu rất tận tình. Bác cho cháu xin tờ giấy, cháu ghi địa chỉ nhà bà chị, ở ngay cư xá Chu Mạnh Trinh, cách đây không xa…



Sau khi ghi địa chỉ của bà chị, tôi đứng dậy chào ông. Ông bắt tay tôi rất chặt, và nói:



- Tôi tình thực, biết gì nói nấy. Nghe không nghe là tùy cậu. Có điều… có điều…



Thấy ông nói đến đó, vẻ ngần ngừ, như e ngại chuyện gì, tôi lắc lắc tay ông, tha thiết nói:



- Bác thấy cháu có điều gì, bác cứ nói đi, đừng có ngại ngùng gì. Cháu sẵn sàng nghe bác nói.



Ông thở dài, bàn tay phải vẫn nắm tay tôi, bàn tay trái ông đặt lên vai tôi, rồi tiếp lời:



- Có điều… cậu phải cẩn thận lắm vì tôi thấy, gương mặt của cậu lúc này vẫn còn u ám báo điềm nhật hạn, nguyệt hạn của cậu vẫn còn nguy hiểm và long đong nhiều lắm… Nhưng vì trung vận và hậu vận của cậu thì khá, không đến nỗi nào, nên nhật hạn, nguyệt hạn của cậu dù có nguy hiểm mấy đi nữa, cậu cũng tai qua nạn khỏi…



Nói đến đó, ông xúc động, kéo tôi vô sát người của ông, rồi đập đập bàn tay của ông vào lưng tôi. Miệng ông nói mấy tiếng ngay bên tai, nhưng tôi nghe không rõ. Tôi chào ông một lần nữa, rồi chia tay. Khi đó là khoảng hai giờ chiều Thứ Bảy.



Bước ra khỏi nhà ông, tôi bâng khuâng nghĩ đến những gợi ý của ông về con đường vượt biên qua thị xã Móng Cái, Lạng Sơn, rồi những lo ngại của ông về “nhật hạn, nguyệt hạn” của tôi… Tôi không thể ngờ được, tất cả những gợi ý và những lo ngại



của ông hôm đó đều trở thành những bước đi định mệnh trên con đường vượt biên của tôi; và “nhật hạn”, cái hạn trong ngày mà ông lo ngại, đã trở thành sự thực hiểm nguy đang chờ đợi tôi trong khoảng cách không đầy 500 thước, ngay trước mắt, trên đường Võ Tánh, nơi tôi đang đi đến trong tâm trạng bâng khuâng, phập phồng và lo ngại…



KỲ 64



Ngay khi bước ra khỏi nhà của ba BL, nhìn về phía đường Võ Tánh bên tay trái, nơi tôi sẽ đi tới, tôi đã thấy ở góc đường, ngay cạnh cột đèn, một toán bộ đội khoảng 5, 7 tên đang đứng trò chuyện. Nhìn vội về phía tay phải, tôi thấy có 3 tên bộ đội đang đi tới. Tuy còn cách tôi khoảng 5, 6 căn nhà, nhưng tôi thấy, cả ba tên đã nhìn thấy tôi. Trong một thoáng suy nghĩ, tôi đã tính quay trở vô nhà. Nhưng tôi lại nghĩ rất nhanh, trong tình thế đó, nếu bây giờ tôi bước vô nhà trở lại, ba tên bộ đội đi tới trông thấy, chúng sẽ nghi ngờ, và như thế, tôi sẽ làm cho gia đình của ba BL bị liên luỵ. Vì vậy, tôi chỉ còn cách giả bộ thản nhiên đi thẳng về phía đường Võ Tánh. Như vậy là lúc này, cả phía trước lẫn phía sau tôi đều có bộ đội, trong khi con đường đó, chỉ có một bên là nhà dân, còn bên kia là hàng rào chạy dài tít tắp…



Càng tới gần ngã ba, tôi càng thấy hồi hộp. Hình như linh tính báo cho tôi biết, sẽ có chuyện chẳng lành xảy ra. Khi đến gần khoảng chục thước, tôi thoáng nhận ra, trong số những tên bộ đội đang đứng trò chuyện, có hai tên vẻ mặt quen quen. Thoạt đầu, tôi không nhận rõ được hai tên đó là ai, nhưng tôi biết chắc, nếu tôi thấy chúng quen quen, chắc chắn chúng phải là những tên vệ binh từng canh tù tại Quân Lao Gò Vấp hoặc tại trại tù cải tạo ở Kàtum. Tới gần hơn, đột nhiên tôi lạnh người khi nhận ra, hai tên vệ binh này chính là hai tên trong số chục tên vệ binh đã đánh hội đồng tôi tại nhà ăn Quân Lao Gò Vấp, khi tôi đang bị tù cách đó khoảng hơn nửa năm. Dĩ nhiên, lúc này, những tên vệ binh quản giáo ở Kàtum, Quân Lao Gò Vấp, cũng như phòng quân pháp, chúng đều biết tôi đã vượt ngục ở Kàtum và đang bị truy nã. Bây giờ “oan gia” gặp nhau trong ngõ hẹp như thế này, sẽ vô cùng nguy hiểm cho tôi.



Ngay khi nhận ra mấy tên vệ binh, tôi quá hoảng hốt, nhưng không còn cách nào khác. Quay trở lại thì không xong vì mấy tên bộ đội ở phía sau đang đi tới. Hơn nữa, tụi vệ binh trước mặt đã nhìn thấy tôi. Quay trở lại chỉ khiến cho chúng thêm nghi ngờ mà thôi. Mà khoảng cách giữa tôi và chúng lại quá gần. Tôi không thể nào đi sát hàng rào bên kia đường, vì đi như vậy, chúng càng thêm nghi ngờ. Còn đi ở giữa đường thì khoảng cách giữa tôi và mấy tên vệ binh cũng chỉ có khoảng 4 thước là tối đa. Với khoảng cách đó, hai tên vệ binh sẽ nhận ra tôi dễ dàng. Thôi thì tôi chỉ còn biết trong lòng cầu nguyện cho chúng đừng nhận ra tôi, và bên ngoài, cố gắng giữ vẻ mặt thật thản nhiên khi đi tới….



Khi đi ngang đám vệ binh, tôi đã cố gắng không liếc nhìn bọn chúng, nhưng không hiểu sao, tôi không thể làm được điều mình muốn. Ngay khi quẹo trái, tôi liếc nhanh đám vệ binh. Trong một tích tắc ngắn ngủi, tôi thấy một tên vệ binh cũng nhìn tôi. Bắt gặp ánh mắt của tôi, ánh mắt của hắn đang dửng dưng, bỗng dưng biến đổi. Thoáng chốc, qua ánh mắt và vẻ mặt của hắn, tôi nhận ra ngay có cái gì đó không bình thường. Có lẽ hắn đã nhận ra tôi?! Tôi tự hỏi và đoán, chắc đúng như vậy. Trong trí não tôi, tôi thấy tôi phải hành động ngay, phải chạy trốn lập tức, nếu không tôi sẽ bị bắt lại. Nhưng trong hoàn cảnh của tôi lúc đó, tôi đâu có thể làm gì hơn. Vì vậy tôi vẫn cố giữ vẻ mặt thản nhiên, cố giữ thái độ ung dung khi đi qua đám vệ binh, rồi bình tĩnh rẽ trái, tiến về phía đồn cảnh sát quận Tân Bình. Đi được khoảng vài thước, tôi nghe có tiếng cãi cọ ầm ĩ của mấy tên vệ binh, rồi có tiếng chân người rảo bước theo tôi… Tôi giật mình nghĩ ngay, có lẽ tên vệ binh đó đã nhận ra tôi, hoặc đã nghi ngờ tôi, và bọn chúng đang đi theo tôi…



Để xác định sự nghi ngờ của mình, tôi giả vờ đứng lại định băng qua đường Võ Tánh, để khẽ ngoái đầu về phía bên tay phải giả vờ xem chừng xe cộ, nhưng kỳ thực là xem sự nghi ngờ của mình có đúng hay không. Quả nhiên tôi thấy mấy tên vệ binh đang đi theo, trong đó tên vệ binh nhận ra tôi lúc nãy, hùng hổ đi đầu. Ngay khi tôi ngoái đầu lại, lập tức ánh mắt của tôi đụng vô ánh mắt của tên vệ binh này… Tên vệ binh này thấy vậy liền la lớn, gọi đúng tên tôi, “Đúng nó rồi! Thằng Chí trốn trại đó! Bắt lấy nó!” Tiếng la chưa dứt, tên đó đã lao thẳng về phía tôi. Mấy tên vệ binh khác cũng vội vã hò hét chạy theo sau… Tôi kinh hoàng, rụng rời tay chân, vội vàng quẳng luôn đôi dép da, bỏ chạy thục mạng… Đằng sau mấy tên vệ binh hăm hở đuổi theo, miệng la hét ầm ĩ cả khu phố, “Bắt lấy nó! Bắt lấy nó! Bắt tên tù cải tạo trốn trại!”…



Vì lúc đó, xe cộ chạy như mắc cửi trên đường Võ Tánh, tôi không thể nào băng qua đường nên phải chạy dọc theo đường Võ Tánh bên phía Phở Huỳnh. Vì chạy bán sống bán chết, lại chạy chân trần, nên tôi chạy nhanh lắm. May mắn cho tôi là khi đó, tôi biết chắc, mấy tên vệ binh không hề có súng, nên tôi yên tâm chạy thục mạng, bất kể tiếng hò hét ầm ĩ phía sau. Chạy được vài chục thước, tôi thấy ngay trước mặt một tên công an áo vàng từ trong đồn cảnh sát quận Tân Bình nhào ra. Có lẽ đang gác cổng, nghe tiếng hò hét, nên hắn chạy ra vì tò mò hơn là để đối phó. Vì vậy khi thấy tôi, cặp mắt của hắn vẫn nhớn nhác không hiểu tôi là ai, chuyện gì đang xảy ra, nên không có phản ứng rõ rệt. Trông thấy tên công an đeo súng ngắn ở hông, tôi hoảng hồn nhận ra, nếu tôi tiếp tục chạy về phía hắn, tôi sẽ bị hắn bắt, hoặc hắn sẽ rút súng bắn tôi không chết cũng bị thương… Nghĩ vâỵ, tôi liền không chạy tới nữa, mà vội vàng liều mạng chạy băng ngang đường Võ Tánh, giữa lúc xe cộ qua lại như mắc cửi. Chưa qua được nửa đường, tôi đã nghe có tiếng súng nổ “đoàng”. Tuy giật mình vì tiếng súng bất ngờ, nhưng tôi đoán ngay, đó chỉ là tiếng súng bắn chỉ thiên của tên công an. Vì đường lúc đó tấp nập xe cộ, người đi lại đông đúc, giữa ban ngày như thế này, chắc chắn tên công ăn không thể nào chĩa súng, bắn thẳng tôi, nếu khoảng cách giữa tôi và hắn quá xa. Vì thế, mặc cho súng nổ, tôi vẫn tiếp tục chạy.



Ngay khi sang đến bên kia đường, chạy lại cắm đầu cắm cổ chạy về phía nhà thờ Nam. Nhưng vừa chạy được khoảng hơn chục thước, tôi thấy ngay đường rày xe lửa chạy cắt ngang đường Võ Tánh. Lập tức tôi rẽ phải. Lúc đó, tôi chỉ biết chạy làm sao cho khuất mắt tụi vệ binh và công an. Vì tôi biết, nếu tôi cứ tiếp tục chạy dọc theo đường Võ Tánh trong khi tụi vệ binh, công an vừa đuổi theo sau vừa hô hoán, mà dọc đường Võ Tánh lúc đó không thiếu gì bộ đội công an đang đi lại, thì trước sau gì tôi sẽ bị chúng bắt lại. Vì vậy, thấy có chỗ quẹo phải, tôi vội vàng quẹo ngay. Ngay khi quẹo phải, tôi nghĩ ngay, tôi không thể chạy dọc theo đường rày xe lửa về hướng Trương Minh Giảng. Chạy như vậy rất nguy hiểm vì dọc theo đường rày, rất khó quẹo phải, quẹo trái, hay chạy vào nhà dân. Còn nếu cứ chạy thẳng theo đường rày, chỉ vài phút sau, tụi vệ binh, công an chạy tới, nhìn theo đường rày, chúng sẽ thấy tôi dễ dàng. Khi đó, chắc chắn chúng sẽ không ngần ngại gì mà không nã súng vào lưng tôi.



Nghĩ vậy, vừa quẹo phải được chục bước, thấy ở bên tay trái, có chiếc cổng của một gia đình mở toang, tôi vội chạy ào vô trong. Ngay khi chạy qua cổng, tôi thấy cả gia đình khoảng chục người đang ngồi ăn cơm ở ngoài sân. Phần vì kinh hoàng, sợ hãi, phần tôi biết lúc đó, tôi không thể có đủ thì giờ để trình bầy ngọn ngành câu chuyện với mọi người trong gia đình, nên tôi chẳng hề chào hỏi một ai, để mặc mọi người ngạc nhiên, trợn mắt ngó, tôi cứ thế chạy thẳng ngay vào trong nhà, rồi đứng trong nhà thở dốc từng hồi…



Từ trong nhà, tôi nghe ngoài đường có tiếng tụi vệ binh đang hò hét, tiếng còi thổi ré lên từng hồi, tiếng người huyên náo, rồi tiếng chân người chạy rầm rập. Tôi quýnh quá, nghĩ nếu tôi cứ ở trong nhà thế này, tụi vệ binh công an ào đến bao vây khu phố, rồi nhào vô từng nhà khám xét, thì làm sao tôi có thể chạy thoát. Nhưng trong lúc này,



tôi cũng không thể nào chạy ra ngoài, vì ngoài kia, vệ binh, bộ đội, công an đang xúm vô truy lùng tôi…



Ngó chung quanh tìm chỗ ẩn nấp, tôi thấy đó là nhà xây, sàn lát gạch men, trần đổ bê tông, nhà nọ chung tường với nhà kia. Tuy nhà có nhiều phòng, chạy dài, nhưng chỉ có một cửa vô duy nhất ở phía đằng trước. Ai đã vô trong nhà mà muốn ra thì chỉ có một đường duy nhất là ra phiá cửa trước mà thôi. Lạ một điều, từ khi tôi chạy vô trong nhà đã được tới 5 phút, nhưng không hề có một ai, từ ngoài sân bước vô hỏi tôi. Lúc tôi chạy ào qua sân, cả chục người đang ngồi ăn cơm, trong đó có hai, ba người đã nhìn thấy tôi và đều rất ngạc nhiên. Vậy mà bây giờ, tôi là một người lạ mặt, tự tiện chạy vô nhà của họ, lại ở trong nhà suốt mấy phút đồng hồ, nhưng không một ai chạy vô thắc mắc, hỏi han?…



Lúc đó miệng tôi khô khốc, ngực nóng ran, cả người đầm đìa mồ hôi, nên rất khát nước. Nhìn thấy trên bàn có chiếc bình bằng thuỷ tinh, trong có nước trong suốt, bên cạnh có mấy chiếc ly, tôi thèm quá, nhưng ngần ngừ không dám tự tiện lấy uống. Ngay lúc đó, tôi nghe có tiếng chân người. Nhìn ra, tôi thấy một người đàn ông, tuổi khoảng trên dưới 40, râu quai nón, tóc bờm xờm, bước vô. Tôi còn đang lúng túng, chưa biết nói năng thế nào, thì người đàn ông hỏi ngay, giọng rất nghiêm:



- Anh là ai? Chậy vô nhà tôi làm gì?



Tôi luống cuống nói vội nói vàng một hơi: ” Thưa tôi là tù cải tạo vượt ngục, đang đi đường thì bị tụi bộ đội nó phát hiện, đuổi bắt, nên vội chạy vô đây, xin anh cho ẩn tạm trong này rồi tôi đi ngay.”



Nghe tôi nói, người đàn ông tin ngay. Anh nhìn tôi với vẻ thiện cảm:



- Vậy anh là người tụi nó đang đuổi bắt ngoài kia đó hả?



Tôi gật đầu: “Dạ đúng!”



Ngay lúc đó, một thiếu phụ, tuổi ngoài 30, bước vô. Chị nhìn tôi một thoáng rồi quay qua người đàn ông, hỏi giọng lo lắng:



- Có chuyện gì không anh?



Người đàn ông nhìn tôi, miệng cười cười: “Có chuyện người ta mới vô nhờ mình, không chuyện người ta vô làm chi.”



Chị nhìn tôi thắc mắc:



- Mà chuyện gì mới được?



Tôi định trả lời chị, thì người đàn ông đã nói: “Anh này là tù cải tạo trốn trại, bị chúng nó nhận ra, nên chúng đuổi bắt…”



Nghe vậy, chị hoảng hốt: “Trời ơi, như vậy thì làm sao bây giờ? Anh ở trong này, lỡ chúng nó ập vô khám nhà thì làm sao…”



Người đàn ông vẫn bình tĩnh, nét mặt tỉnh queo: “Dọc đường này có cả trăm nhà dân, chúng biết nhà ai chứa anh ấy mà chúng vô. Bộ em tính đuổi anh ấy ra ngoài cho chúng nó bắt sao…”



Người đàn bà lúng túng:



- Không, em đâu có ý đó. Em tính…



- Em thì tính cái gì mà tính. Đi ra gọi chị Ba vô đây.



Người đàn bà bối rối, định nói gì, lại thôi, rồi chị vội vã chạy ra ngoài. Không đầy phút sau, một người đàn bà tuổi khoảng 50, mái tóc đã điểm bạc, bước vô. Nhìn tôi một thoáng, chị hỏi: “Chuyện gì vậy, T.?”



Người đàn ông tên T. nhắc lại câu nói lúc nãy: “Anh này tù cải tạo, trốn trại, đi đường bị chúng nó nhận ra, đuổi bắt, nên anh chạy vô đây nhờ mình…”



Nghe chưa dứt câu, chị Ba quay sang tôi nói ngay: “Tù cải tạo trốn trại hả? Vậy anh đi theo tôi…”



Nói xong, chị đi thẳng vô nhà trong và đi rất nhanh. Tôi nhìn anh T., thấy anh gật đầu, tôiliền vội vàng đi theo chị Ba. Đi hết phòng khách, đi qua một hành lang nhỏ, mà



phía bên phải là một phòng đóng kín, rồi đến nhà bếp. Bước vào nhà bếp, tôi thấy tất cả kín bưng, trần thì ám khói, nền nhà bằng xi măng tróc lở tùm lum, chứ không có lót gạch men như ở những phòng ngoài. Trên nền bếp là củi, than, mùn cưa, nằm ngổn ngang. Tôi còn đang lúng túng, không biết mình phải ẩn náu ở đâu trong căn bếp nhỏ bé này, thì chị Ba đã bước vô sát bức tường bếp ám khói ở tận trong cùng căn nhà. Chị đưa tay kéo tấm vải đầy khói sang bên, để lộ ra một cách cửa gỗ nhỏ đen sì, chiều ngang khoảng 80 phân, chiều cao khoảng thước hai. Chị kéo chốt cửa sang bên rồi đẩy mạnh. Cánh cửa mở tung, một luồng gió từ bên ngoài thổi vô cuốn theo bụi bặm, tro than, nhưng tôi thấy mát rượi và sung sướng vô cùng. Trước cặp mắt ngạc nhiên và vui mừng của tôi, chị đặt bàn tay của chị lên vai của tôi rồi thì thầm:



- Cậu đã vô đây nhờ vả, chúng tôi sẵn sàng giúp cậu. Nhưng nếu để cậu ở trong nhà, lỡ chúng vô nhà lục soát, bắt được cậu là chết cả nhà. Bây giờ cậu cứ theo lối này đi thẳng về phía tay phải khoảng nửa cây số là tới một con đường mòn. Tới đó cậu rẽ phải rồi cứ thế đi thẳng là ra tới đường Trương Minh Giảng, ngay gần cổng xe lửa. Thôi, cậu đi đi. Chúc cậu may mắn…



Vừa mừng vừa xúc động, tôi chỉ kịp bệu bạo nói được hai tiếng “Cảm ơn” rồi vội khom mình tính chui qua chiếc cửa nhỏ. Chưa kịp chui qua, bỗng dưng chị cầm tay tôi kéo lại:



- Khoan đã… Cậu đi mà chân không giầy không dép gì thế này, chúng trông thấy là chúng nghi ngờ bắt liền cho coi.



Tôi chui trở lại, bẽn lẽn, chưa kịp nói gì, thì chị Ba đã quay sang nói với chị T.:



- Mày vô lấy đôi dép của chồng mày nhanh lên…



Chị T. vội vã chạy đi. Thoáng chốc, chị đã quay lại đưa cho tôi đôi dép da đã cũ của chồng chị. Xỏ chân vô đôi dép, tôi thấy nó vừa như in. Chưa kịp cảm ơn chị T. thì chị Ba đã dục:



- Thôi cậu đi đi…



Vâng lời chị, tôi định bước đi thì chị T. đã dúi vào tay tôi một vật gì không rõ, rồi chị nói nhỏ, nhưng tôi nghe rất rõ: “Cậu cầm lấy, lỡ khi cần!…” Tôi xúc động nhìn chị T. muốn nói mà không nói nên lời. Trong một thoáng vội vã, tôi nhìn chị Ba như muốn ghi nhớ mãi mãi trong tâm trí mình hình ảnh của những con người tuy không hề quen biết, nhưng sao tận tình đùm bọc, giúp đỡ tôi trong lúc hoạn nạn… Tự dưng tôi ứa nước mắt, tất cả mọi hình ảnh đều nhòa đi trong mắt tôi, tôi thấy nghẹn ngào xúc động không nói nên lời. Chị Ba đẩy vội tôi về phía cửa và nói, giọng của chị cũng xúc động:



- Thôi… cậu đi… bằng an…



Tôi cố gắng nói, giọng nghẹn ngào:



- Em… cảm ơn… các chị…



Nói xong, tôi vội quay đi, nhưng vẫn kịp thấy chị T. quay người vào phía trong, úp mặt vào hai bàn tay…



Tôi bồi hồi xúc động, chân bước thấp bước cao, đi dọc theo con hẻm hẹp bê ngang khoảng 80 phân, nằm giữa hai bức tường cao, trên mặt hẻm đầy gạch, vữa, lá cây bao phủ cả chục năm trời. Đúng ra, nói đây là con hẻm cũng không đúng, vì xưa nay, không hề có ai qua lại con hẻm này. Nhìn lên, tôi chỉ thấy hai bức tường gạch kín mít, không có một cửa sổ nào, và cũng chẳng thấy có chiếc cửa nào lạ lùng như chiếc cửa của nhà chị Ba. Âu đó cũng là sự may mắn, run rủi khiến tôi chạy ngay vào căn nhà của chị. Nếu tôi chạy vô một căn nhà khác, dù được mọi người trong gia đình tận tình giúp đỡ, chưa chắc gì tôi đã chạy thoát ra ngoài bằng con hẻm hiếm hoi và đặc biệt này. Và như vậy, biết đâu giờ này tôi đã chẳng bị mấy tên vệ binh bắt lại?



KỲ 65



Tôi chạy được khoảng 15 phút thì tới một con hẻm. Nhớ lời chị Ba dặn, tôi vội quẹo phải. Đó là con hẻm nhỏ, đường vắng vẻ, không một bóng người, nhưng văng vẳng từ xa, tôi vẫn nghe thấy tiếng ồn ào huyên náo từ phía sau vọng tới. Vì vậy, tôi vẫn cắm đầu cắm cổ chạy. Trong lòng tôi lúc đó vẫn sợ hãi những tên bộ đội, vệ binh, quản giáo, sẽ kết hợp với công an tại đồn Tân Bình, bủa vây mọi phía để bắt tôi…



Chạy được một lúc, quả nhiên tôi ra đến đường Trường Minh Giảng. Lúc này, mồ hôi tôi toát ra đầm đìa, tóc tai thì bơ phờ, tôi vừa đuối sức, vừa nôn nao chóng mặt, chỉ muốn té. Cũng may mắn, những người đi lại trên đường hầu như không một ai để ý đến tôi. Tôi nghĩ, tốt nhất lúc này mình nên dừng lại, đi thật thong thả, để mọi người khỏi nghi ngờ. Vừa nghĩ đến đó, thì tôi thấy từ xa, một toán bộ đội đang đi ngược chiều, nhưng ở ngay phía bên kia đường, cách tôi khoảng 50 thước. Cả toán đang tìm cách băng qua đường, vừa đi vừa dơ tay chặn xe cộ cả hai chiều. Tôi tin là toán bộ đội chưa thấy tôi. Tôi không biết, toán bộ đội đó có truy lùng tôi hay không, nhưng trong hoàn cảnh lúc đó, tôi quá sợ hãi, liền vội vàng quay ngay đầu trở lại. Nào ngờ, ngay khi quay đầu trở lại, tôi lại thấy một toán bộ đội khác cũng đang đi tới. Toán này cách xa tôi khoảng hơn 100 thước nhưng cùng phía với tôi…



Kinh hoàng quá, tôi không biết làm thế nào. Nếu lúc này tôi lại chạy băng qua đường, để toán bộ đội đuổi theo, chắc chắn tôi sẽ không tài nào chạy thoát, vì sức tôi đã cạn kiệt. Buổi sáng, rời nhà bà chị để đi lấy bản đồ, địa bàn, tôi đã không ăn uống gì. Tính đi về chỉ khoảng hơn tiếng đồng hồ, nên tôi định lấy xong, mới về nhà ăn cơm. Ở nhà của ba BL, tôi cũng chỉ uống có mấy ly nước trà. Vì thế, trong suốt thời gian gần một tiếng đồng hồ chạy trốn trong kinh hoàng, sợ hãi, tôi đã cạn kiệt sinh lực, hai chân chỉ muốn khuỵu xuống. Trong tình huống đó, nếu tôi lại bỏ chạy một lần nữa để cho mấy tên bộ đội đuổi theo, quả thật đó là hành động tự sát.



Trong lúc hoảng hốt, bối rối như vậy, tôi thoáng thấy một căn nhà ngay phía bên phải, có chiếc cổng thật to cho xe hơi ra vô thì đóng kín, còn bên cạnh có chiếc cổng nhỏ bằng gỗ cho người ra vô thì khép hờ… Một thoáng ngần ngừ, rồi chẳng hiểu trời sui đất khiến làm sao, tôi liền vội vàng đẩy chiếc cổng gỗ nhỏ, bước vội vô, rồi nhanh tay, tôi đóng ngay cánh cổng lại và cài luôn chiếc then cổng bằng gỗ.



Lúc đó, tôi chỉ tính tạm dừng chân phía trong cánh cổng một lát cho đỡ mệt, chờ cho toán bộ đội đi qua, tôi sẽ mở cổng, trở ra trà trộn với người đi đường, để tìm đường thoát thân về lại khu chợ Thị Nghè, sào huyệt an toàn của tôi. Tôi đâu có ngờ được, trong khi tôi đang gục đầu vào cánh cổng thở dốc từng hồi, bỗng nhiên có tiếng phụ nữ hỏi, giọng nghiêm:



- Anh là ai?



Tôi giật bắn người, ngẩng đầu nhìn, thì thấy trước mặt một người đàn bà cốt cách quý phái, tuổi còn rất trẻ, chỉ khoảng trên dưới 30. Chị mặc chiếc áo bà ba trắng, tóc búi cao, nước da trắng mịn, nét mặt thanh tú, nhưng u uất, buồn bã. Tuy giọng hỏi của chị gay gắt, nhưng cặp mắt của chị thật đôn hậu, nhu mì khiến tôi lúc đó vừa mệt vừa xúc động, nên lúng túng, ấp úng không nói nên lời:



- Tôi… tôi….



Chị đưa mắt nhìn tôi từ đầu đến đuôi, rồi nhìn vào chiếc then cổng bằng gỗ mà tôi đã cài chặt, hỏi tiếp:



- Sao bỗng dưng anh vô nhà tôi, rồi tự tiện cài cổng lại là thế nào?



Qua giọng nói và cách hỏi của chị, tôi ngạc nhiên thấy chị tuy biết tôi là người lạ, đường đột bước vào nhà của chị, lại tự tiện cài cửa, nhưng phong thái của chị rất ung dung, không tỏ vẻ sợ hãi chút nào. Tôi hít một hơi thở thật sâu cho đỡ mệt, rồi nói, giọng vẫn hổn hển:



- Tôi là tù cải tạo… vượt ngục, bị tụi bộ đội đuổi nên phải chạy vô đây…



Chị nhìn tôi, hơi nhíu lông mày. Tôi không biết chị có tin lời của tôi nói hay không. Nhưng có lẽ nhìn bộ điệu hoảng hốt, thất thần của tôi cùng gương mặt thảm não, đầm đìa mồ hôi của tôi, chị có vẻ ái ngại, và vẻ ái ngại đó hiện rõ trên ánh mắt của chị. Tôi vội nói thêm, giọn nài nỉ:



- Xin chị thương tôi, cho tôi ẩn náu một lát rồi tôi đi. Nếu chị đuổi tôi ra ngoài bây giờ, tụi chúng sẽ bắt tôi ngay…



Chị mỉm cười, hàm răng trắng đều như bắp:



- Tôi đuổi anh hồi nào mà anh gieo tiếng ác cho tôi vậy?



Thấy nụ cười và được nghe câu hỏi đùa của chị, tôi thở phào như trúc được gánh nặng ngàn cân. Chị bảo tôi:



- Anh muốn trốn tránh tụi nó thì theo tôi đi vô trong nhà, chứ đứng ở đây mà ẩn náu thì nguy hiểm lắm.



Nói xong, chị quay mình, thoăn thoát bước. Tôi mừng rỡ, vội vã đi theo chị.



Nhà của chị là một căn biệt thự có bề ngoài khá đồ sộ. Tôi phải đi qua một cái sân rộng có nhiều cây cảnh đẹp, cắt tỉa công phu thành những con công, con hạc, con hươu; rồi bước lên mấy bậc tam cấp, trước khi bước vào một phòng khách rộng mênh mông, trang trí thanh nhã và lịch sự. Nhìn phòng khách tôi ngạc nhiên và giật mình, vì tất cả những đồ đạc trong phòng khách vẫn giữ nguyên vẻ giầu có, sang trọng trước 1975. Hai bộ salon lớn, một bộ nằm ngay giữa phòng khách, một bộ khác nằm về phía bên phải, ngay trên hành lang rộng. Nhà lúc đó không có máy lạnh, nhưng bước vô tôi thấy mát rượi vì trần nhà rất cao, sàn nhà lại lót gạch men. Bức tường chính giữa phòng khách có một bức tranh sơn mài thiệt lớn, kín cả bức tường, vẽ cảnh núi non hùng vĩ, với những hàng chữ Tàu. Phía bên dưới là một chiếc tủ kính, trong đó trưng bầy rất nhiều đồ vật có vẻ quý giá. Đặc biệt, chung quanh nhà có rất nhiều lọ lục bình, to nhỏ đủ cỡ, cùng những thùng hàng to nhỏ khác nhau, xếp không theo một thứ tự nào, nên ngổn ngang bừa bộn.



Nhìn thoáng qua cảnh trí trong phòng khách, tôi lo ngại mình đã chạy vô lầm nhà. Tôi biết, thời buổi lúc đó, sau 1975 đến gần hai năm trời, chắc chắn không có căn nhà nào giầu sang, phú quý trên lãnh thổ Miền Nam, có thể thoát khỏi cặp mắt cú vọ của tụi cộng sản. Nhất là căn nhà sang trọng này lại ở ngay giữa thành phố Sàigòn, thì chắc chắn tụi “cách mạng 30″ phải tìm mọi cách tâng công, báo cáo cho tụi cán bộ cộng sản để chúng không tịch thu nhà thì cũng tịch thu hết mọi tài sản trong nhà. Như vậy, căn nhà to lớn bề thế với những đồ đạc sang trọng như vậy, trong lúc này chỉ có thể là nhà bị tụi cán bộ cộng sản cao cấp chiếm đoạt. Và nếu thế thì số phận tôi hôm nay xem ra lành ít, dữ nhiều, khi tôi chui vào căn nhà này ẩn náu.



Nghĩ vậy, nhưng nhìn cặp mắt đôn hậu của chị, chẳng hiểu sao tôi vẫn thấy lòng mình thật êm ả, không mảy may lo sợ. Tôi có cảm tưởng như bên ngoài đường phố kia là sóng gió bão bùng. Nhưng trong căn nhà này, được thấy cặp mắt hiền hậu của chị, tôi có cảm tưởng như một vùng biển êm ả cho những con thuyền gặp bõ được ẩn náu. Đó quả là điều lạ lùng, tôi không sao hiểu nổi, vì xưa nay tôi không phải là một nhà tướng số, và cũng chẳng phải là người có kinh nghiệm, từng trải gì trong đối nhân xử thế. Lúc nào tôi cũng ngu ngu ngơ ngơ, đúng như một con “ngỗng tồ” như nhiều người vẫn bảo. Nhưng đấy đúng là cảm xúc thật của tôi lúc đó.



Có lẽ qua ánh mắt, nét mặt của tôi, chị đã thông minh đoán được phần nào sự lo ngại của tôi. Chị nói ngay:



- Anh yên tâm đi, nhà này sắp đổi chủ rồi. Tụi tôi chỉ còn ở đến cuối tháng này là phải dọn đi vùng kinh tế mới, nhường nhà này cho “gia đình cách mạng”.



Tôi ngượng nghịu, vì không ngờ chị đã đọc được suy nghĩ của tôi. Chị nói tiếp:



- Tôi tên B. Còn anh, tên chi?



- Tôi tên Chí.



- Chí “ch” hay “tr”



- Thưa Chí “ch”…



- Nói thiệt với anh Chí nghe, tôi thấy anh bước vô nhìn đồ đạc bầy biện trong nhà là nét mặt anh khác liền, anh có vẻ lo ngại thấy rõ. Thấy anh lo ngại như vậy nên tôi tin anh liền.



Tôi ngạc nhiên và cảm động:



- Cảm ơn chị B.



- Anh Chí đừng có ngại ngùng gì cả. Ba của tôi, chồng của tôi cũng bị tụi nó bắt đi tù cải tạo, nên thấy anh trốn tù bị tụi nó truy đuổi, tôi sẵn sàng giúp anh, anh cần gì cứ nói. Bây giờ tôi lấy anh ly nước anh uống. Mà anh có đói không? Anh đã ăn uống gì chưa?



Tôi xúc động, lúng túng, nhưng thật thà:



- Thưa chị, tôi đói muốn xỉu được…



- Vậy anh ngồi đây, tôi đi luộc ít mì cho anh ăn. Nhà không có cái gì có thể ăn được ngoài mấy vắt mì khô. Anh chịu khó ăn mì luộc với tí nước mắm vậy nghe…



Tôi nghẹn ngào. Trong lòng tôi lúc đó muốn nói với chị cả ngàn lời ân nghĩa, mà không nói nên lời, chỉ biết nuốt lệ, gật đầu.



Lát sau, chị B. bưng ly nước để lên bàn, rồi thở dài bảo tôi:



- Tôi có hai cháu nhỏ. Cả hai đều phải gửi về quê cho ngoại nuôi. Xa chúng nó, lúc nào tôi cũng khóc. Đêm khóc, ngày khóc. Tôi biết, chúng nó xa mẹ, chắc cũng khóc dữ lắm. Nhưng để chúng nó ở đây thì cả ba mẹ con đều chết đói….



Chị vô bếp nấu nướng một hồi rồi đem ra cho tôi một tô mì sợi luộc, một chiếc chén nhỏ, một đôi đũa, và một chén nước mắm. Lúc đó, tôi đói bụng cồn cào, chân tay bủn rủn, nên gắp mấy sợi mì, mà không hiểu sao, tay cứ run bắn lên, lóng nga lóng ngóng. Đến khi gắp được miếng mì đầu tiên đưa vô miệng, nhau chập choạng, định nuốt, tự dưng cổ tôi bị nghẹn lại, nuốt không vô, rồi mắt bên trái của tôi bỗng dưng giật giật và ứa lệ. Tôi phải uống một hơi hết ly nước lạnh, mới hết nghẹn. Hôm đó, tôi được ăn bữa mì luộc chấm nước mắm ngon tuyệt vời. Quả thật, tôi chưa bao giờ được ăn bữa mì sợi luộc nào ngon đến như vậy. Ngay cả sau này, đi bất cứ đâu, được ăn bất cứ món ăn gì có mì sợi, tôi cũng bâng khuâng nhớ đến bữa mì luộc chấm nước mắm tại nhà chị B. ở đường Trường Minh Giảng. Tôi cũng không hiểu sao, kể từ ngày đó cho đến hôm nay, mỗi khi tôi ăn uống thức gì, mắt trái của tôi cũng ứa lệ, khi nhiều, khi ít. Cái tật kỳ quái này, từ xưa tới nay tôi chưa nói cho một ai biết. Hôm nay, khi viết những dòng chữ này, nhớ đến kỷ niệm xưa, tôi thấy phải viết lên để quý độc giả thấy được tấm lòng thành của tôi dành cho chị B. vì mỗi khi như vậy, tôi lại nhớ đến chị B., một người phụ nữ Miền Nam, có tấm lòng đôn hậu, thương người, sẵn sàng liều mạng giúp đỡ người khác, nhưng cuộc đời của chị, cũng giống như hàng chục triệu người phụ nữ Việt Nam khác, đã trải trăm ngàn khốn khổ, phải nổi trôi cùng vận nước, kể từ khi cộng sản xuất hiện trên quê hương Việt Nam.



Thấy tôi ăn tô mì luộc ngon lành, chị B. nói:



- Tôi ăn mì luộc cả mấy tháng nay rồi đó, anh tin không? Mà có mì luộc ăn cũng là may lắm. Trước đó tôi phải ăn khoai mì. Tôi phải cuốc đất trồng khoai mì ở ngay sau nhà, mà cũng chẳng có đủ khoai mì mà ăn. Anh nhìn bàn tay của tôi đây nè…



Tôi nhìn bàn tay của chị và giật mình. Tôi không thể nào tin được, một người phụ nữ cốt cách thanh lịch, cao quý, với nước da trắng mịn như chị, lại có hai bàn tay sần sùi nứt nẻ.



Chị chua chát:



- Bây giờ tôi cũng đỡ khổ, đỡ khóc rồi. Một năm trước, tôi khổ lắm, chỉ muốn chết quách đi cho rồi. Nhà cửa thì bị “cách mạng” đến niêm phong. Tất cả đồ đạc, nhà cửa



của mình, bỗng dưng bị mất trắng. Đã vậy ba chồng rồi chồng cũng bị đi tù cải tạo, không biết đến bao giờ ra. Còn hai đứa con tôi cũng phải xa chúng nó. Ngó quanh, chẳng còn có một ai. Cuốc đất trồng khoai mì tôi cũng chỉ dám làm buổi tối. Làm ban ngày sợ nắng, cháy da…



Nói đến đó, chị đột nhiên hỏi tôi:



- Bây giờ anh tính thế nào? Tôi thì tôi muốn giúp anh lắm, nhưng nhà này đến 5 giờ chiều là có mấy bà cán bộ “cách mạng” đến ở. Chúng khuân đến đây đủ thứ đồ đạc tịch thu hay mua bán được của ai. Chất đầy cả nhà xe, nhà kho, rồi cả hai căn phòng trong nhà.



Chỉ mấy chục lọ lục bình, cùng các thùng đồ để ngổn ngang trong phòng khách, chị tiếp:



- Đó, tất cả chúng chở đến đây, được vài ngày là có xe đến chở đi. Rồi lại có người chở đủ thứ đồ đạc khác đến. Cứ như vậy, mỗi tuần hai chuyến, chúng chở ra ngoài Bắc… Vì vậy, nếu anh ở đây đến chiều là không được. Tụi chúng nó về là mọi chuyện đổ bể hết. Tôi chẳng giấu anh được đâu.



Tôi vội thưa:



- Chị yên tâm. Tôi ăn xong tô mì này là tôi đi ngay…



Chị xua tay:



- Tôi nói vậy thôi, chứ anh ăn xong, cứ nghỉ ngơi cho khoẻ rồi hãy đi. Miễn sao anh đi khỏi đây trước 4 giờ chiều là được…



Tôi cảm ơn chị, rồi vội vàng ăn hết tô mì. Ăn uống xong xuôi, tôi bình tĩnh ngồi tính toán đường đi nước bước. Cho đến lúc đó, tôi vẫn đinh ninh, trong túi của tôi còn nguyên chiếc bóp trong đó có giấy tờ giả tuỳ thân mà BL đã làm cho tôi. Nhưng khi sờ túi, tìm chiếc bóp, tôi mới giật mình khi thấy chiếc bóp đã không còn. Nhìn bộ điệu hốt hoảng của tôi, chị B. hỏi ngay:



- Anh tìm gì vậy? Mất bóp phải không?



Tôi méo mặt, miệng run run thú nhận một sự thật kinh hoàng:



- Dạ, tôi chạy, bóp rơi lúc nào không biết. Chị B. ơi, bây giờ tôi biết làm thế nào?



Thú thực, trong hoàn cảnh của tôi lúc đó, chấp nhận phiên lưu đi ra ngoài không có giấy tờ tuỳ thân là điều chẳng đặng đừng. Mấy tháng trước, từ trong trại tù cải tạo, tôi vượt ngục, không có giấy tờ trong tay. Nhưng đó là trong cái chết, phải tìm cái sống, tôi sẵn sàng chấp nhận mọi hậu quả. Còn bây giờ, tôi đang sống trong tự do, đã quen với việc đi lại có giấy tờ tuỳ thân, dù đó là giấy tờ giả, nhưng cũng cho tôi có được sự an tâm phần nào. Vì vậy, bảo tôi bây giờ đi ra ngoài, khi trong tay tôi không có một tờ giấy tuỳ thân, tôi rất lo ngại. Điều tôi lo ngại hơn là nếu chẳng may, chiếc bóp đó rơi vào tay tụi vệ binh, bộ đội, công an trong khi chúng truy đuổi tôi, thì sẽ nguy hiểm cho BL vô cùng. Nghĩ vậy, tôi chỉ còn biết cầu mong, chiếc bóp của tôi đã rơi vào cống rãnh, hay ở một nơi nào đó, miễn sao, đừng lọt vào tay tụi chúng.



Nhìn vẻ mặt bồn chồn, lo lắng của tôi, chị B. vội bảo:



- Bây giờ anh cứ ngồi đây nghỉ ngơi, đừng lo ngại gì cả. Để tôi gọi điện thoại cho mấy người bạn. Mấy người này họ tháo vát lắm. Họ mà đến đây là bảo đảm trước sau gì, họ cũng sẽ giúp anh về bên Thị Nghè dễ ợt.



Tôi lo ngại, cản chị:



- Cảm ơn chị đã giúp đỡ nhưng tôi nghĩ, chị đừng gọi cho ai cả. Chị để mình tôi tìm cách lo liệu được rồi. Gọi cho nhiều người, lỡ liên luỵ đến các chị…



Chị B. biết ý, nói ngay:



- Anh đừng có lo gì cả. Tất cả mấy chị bạn của tôi cũng có chồng, có cha đi tù cải tạo hết chơn vậy đó. Nếu không tin tưởng ở họ, thì tôi gọi điện thoại cho họ làm gì. Anh cứ ngồi đó đi, để tôi lo cho. Bảo đảm anh sẽ an toàn về đến Thị Nghè mà…



Nói xong, không cần biết tôi có đồng ý hay không, chị bước lại bàn, nhấc điện thoại, quay số…



KỲ 66



Ngồi trò chuyện với chị B. được khoảng nửa tiếng đồng hồ thì có tiếng chuông reo. Chị B. vội chạy ra mở cổng. Ít phút sau, nhìn ra sân, tôi thấy đi theo chị B. là hai người phụ nữ, tuổi khoảng ngoài 30, ăn mặc giản dị. Một người dắt chiếc Honda dame, có mái tóc buông xoã, đeo kiếng đen tròng to rất hợp với gương mặt trái xoan và vầng trán thanh thoát của chị. Còn người kia đi không, tóc cắt tém, vai đeo chiếc túi vải khá lớn có nhiều tua vải xung quanh.



Thấy ba chị bước vô nhà, tôi vội đứng lên, lúng túng chưa kịp chào, thì chị B. đã chỉ chị đeo kiếng đen rồi chị cắt tóc tém, và nói:



- Giới thiệu với anh, đây là chị H. và chị T….- Quay sang các chị, chị B. tiếp – Còn đây là anh Chí mà em đã nói trong phôn…



Chị H. người đeo kiếng đen, khẽ phẩy tay tỏ ý không muốn chị B. nói tiếp, rồi chị gỡ cặp kiếng đen, hai tay chống nạnh nhìn tôi, hỏi giọng chị hai:



- Anh là tù cải tạo trốn trại?



Tôi lễ phép:



- Dạ…



Chị H. hỏi dồn:



- Vậy anh ở trại tù cải tạo nào? Anh trốn tù ra làm sao? Làm sao anh lại chạy vô được nhà con B. em tôi?



Tôi liền kể đầu đuôi chuyện tôi đi lấy bản đồ, địa bàn, bị mấy tên vệ binh quản giáo nhận diện, đuổi bắt ra làm sao, chạy trốn như thế nào. Tôi cũng đem luôn chuyện tôi trốn trại cải tạo ở Tây Ninh nhất nhất kể lại cho các chị nghe…



Kể được khoảng mươi phút thì có tiếng chuông. Chị H. đưa tay ra hiệu bảo tôi ngừng kể, rồi quay ra bảo chị B.:



- Chị X. phải không?



Chị B. gật đầu vừa nói “Dạ” vừa đứng dậy đi ra cổng mở cửa. Chị H. quay lại bảo tôi:



- Trong mấy chị em tụi tôi, chị X. lớn tuổi nhất. Chị lại giỏi và hiền thục, nên tụi tôi coi chị như chị hai. Lát nữa chị vô đây, anh kể lại chuyện của anh từ đầu, thế nào chị cũng có cách giúp anh.



Chị H. vừa dứt lời, thì chị B. và chị X. cũng từ ngoài sân đi vô, tay dắt một chiếc xe đạp mini. Chị có dáng người cao, bước đi thanh thoát. Dưới ánh nắng chiều xiên khoai, nhìn chị từ xa, tôi ngạc nhiên nghĩ chị rất trẻ. Nhưng khi chị bước vô nhà, tôi mới nhận ra những sợi tóc muối tiêu trên mái tóc và những nếp nhăn ở hai đuôi mắt củc chị. Nước da của chị trắng xanh khiến cho những quầng đen quanh mắt càng thêm rõ. Chỉ nhìn thoáng qua, tôi đã thấy gương mặt của chị trĩu nặng khổ đau, dấu hiệu của những đêm dài không ngủ, những lần khóc âm thầm. Nhất là cặp mắt của chị nhìn tôi, một người chưa hề quen biết, nhưng sao tôi thấy trong mắt chị là cả một hoàng hôn đầy ắp niềm tâm sự….



Ngay khi chị X. bước vô cửa, cả chị H. và chị T. đều đứng dậy thân mật chào hỏi. Tiếng chị H. hỏi nhỏ, nhưng tôi vẫn nghe thấy loáng thoáng: “Có tin gì mới không chị?” Chị X. lắc đầu nhẹ, không nói. Các chị đều thở dài, đưa mắt nhìn nhau, kín đáo che giấu niềm thất vọng. Tôi không biết đó là chuyện gì, nhưng tôi đoán chuyện đó phải quan trọng lắm, và có lẽ đó là nguyên nhân của những khổ đau trĩu nặng mà chị X. đang gánh chịu…



Nhìn vẻ mặt đau khổ của các chị, tôi lại nhớ đến lời chị B. nói với tôi trước khi gọi phôn, “Anh đừng có lo gì cả. Tất cả mấy chị bạn của tôi cũng có chồng, có cha đi tù



cải tạo hết chơn vậy đó. Nếu không tin tưởng ở họ, thì tôi gọi điện thoại cho họ làm gì”. Nhìn các chị lúc này tôi hiểu, giống như tất cả những người mẹ, người vợ trên mảnh đất Miền Nam sau 1975, các chị đang phải chịu đựng những thảm hoạ tang tóc, bi thương không bút mực nào tả xiết. Mỗi ngày trôi qua đối với mỗi cuộc đời, nhất là những người mẹ, người vợ, trên mảnh đất Miền Nam là cả một bi kịch. Và vào thời điểm năm 1977, cộng sản mới chiếm được Miền Nam có hai năm, nên tất cả những thảm kịch trên quê hương Miền Nam lúc đó chỉ mới bắt đầu, thời gian chờ đợi cha, chồng, con đi học tập cải tạo mới chỉ có 2 năm, và còn đằng đẵng 10, 15 năm chờ đợi trước mặt. Còn biết bao nhiêu thảm kịch khác, mà thảm kịch sau bao giờ cũng thê thảm hơn, khủng khiếp hơn, tang thương hơn so với những thảm kịch trước… đang chờ đợi các chị và những người dân Miền Nam…



Chị X. thong thả bước về phía tôi. Tôi vội vàng đứng dậy. Chị đưa tay bắt tay tôi. Bàn tay của chị mềm mại, nhưng gương mặt, ánh mắt của chị toát lên vẻ cương quyết. Trong khi mắt chị nhìn thẳng vô mắt tôi, chị nói giọng bình tĩnh và ấm áp:



- Chào anh. Tôi là X. Anh ngồi xuống đi. Ngồi xuống mình nói chuyện cho thoải mái.



Quay sang các chị, chị X. tiếp:



- Mấy cô cũng ngồi xuống cả đây đi.



Nhìn chị B. chị T. và nhất là chị H. ngoan ngoãn ngồi xuống, tôi rất ngạc nhiên. Tôi không thể ngờ được chị X. trông thanh mảnh và yếu đuối như vậy, nhưng lại có uy tín gần như tuyệt đối với tất cả các chị.



Sau đó, tôi ngồi nghe các chị kể chuyện và kể chuyện của mình. Qua chuyện trò, tôi được biết, tất cả các chị đều có chồng đi tù cải tạo. Chị T. trẻ nhất, có tới 3 người trong gia đình phải đi tù cải tạo là cha ruột, chồng và bố chồng. Riêng chị X., chồng cũng đi tù cải tạo, nhưng khoảng một tháng trước, ban chỉ huy trại tù cải tạo báo tin cho chị biết là chồng chị trốn trại. Đến nay, đã gần một tháng trôi qua, chị vẫn không nhận được tin tức gì của chồng. Trong khi đó thì tin từ một số người đi thăm nuôi tù cải tạo về nói, chồng của chị đã bị tụi VC bắn chết ngay khi anh trốn trại. Không biết tin nào đúng, tin nào sai, nhưng chị X. chỉ biết bấu víu vào một sự thật, cách đây một tháng, đang nửa đêm, bộ đội bỗng vây kín nhà chị, rồi lục xoát trong nhà ngoài vườn để tìm kiếm chồng chị. Cũng đêm đó, bộ đội cũng vây kín nhà bố mẹ chồng và lục soát cho đến rạng sáng mới rút đi. Chính những cuộc lục soát tìm kiếm đó khiến chị X. tin tưởng, chồng chị đã vượt ngục và vẫn còn sống…



Sau khi nghe tôi kể lại cuộc đào thoát và chạy trốn của mình, chị X. hỏi:



- Bây giờ anh tính sao?



Tôi thú thực:



- Thưa chị, tôi bị mất bóp, nên bây giờ không có một tờ giấy tuỳ thân. Tiền bạc cũng không có. Nếu được, xin các chị giúp đỡ cho tôi về bên Thị Nghè. Ở đó, tôi sẽ có người giúp đỡ.



Chị X. nói:



- Chuyện tiền bạc thì không có gì khó. Khó là giấy tờ tuỳ thân. Chúng tôi đàn bà con gái cũng không biết làm sao giúp anh được.



Quay sang nhìn chị H., chị X. hỏi:



- Em có cách nào không?



Chị H. liến thoắng:



- Lúc nãy tụi em có nói với nhau, hay là để anh dùng căn cước của chồng nhỏ T. Chồng nó đi tù cải tạo nhưng thẻ căn cước chưa bị tịch thu, vẫn còn để nhà…



Chị T. đỡ lời:



- Thưa chị, em thấy anh này có nét mặt hao hao giống chồng em. Chiều cao của anh này cũng vậy, không xê xích là mấy. Hay là để chị H. chở em về nhà lấy căn cước đưa cho anh dùng tạm…



Chị X. quay qua hỏi tôi:



- Anh nghĩ sao? Liệu vậy có ổn không?



Tôi cảm động:



- Cảm ơn các chị. Nhưng dùng căn cước của anh T. là không ổn vì bây giờ, tụi VC đều dùng giấy tờ khác, đâu có dùng căn cước của mình ngày xưa. Thêm nữa, nếu dùng căn cước, bị tụi nó hạch hỏi, tôi cũng không biết đường nào mà trả lời. Khi đó, sẽ còn liên luỵ đến chị, đến anh và gia đình…



Chị X. gật đầu:



- Anh nói vậy đúng lắm. Như vậy thì tốt nhất là anh hãy tạm ẩn náu ở nhà của cô H. đi. Nhà của cô B. ở đây thì ở ban ngày được, còn chiều tối là tụi cán bộ VC nó về đóng chốt ở đây suốt đêm. Nhà của tôi thì tụi nó cũng canh gác theo dõi. Bây giờ cũng lơi lỏng nhiều, nhưng anh vẫn không thể về đó được. Còn nhà cô T. thì xa lắm, tận Gò vấp lận…



Tôi xua tay:



- Thưa chị, nếu về nhà chị H. ẩn náu, tốt nhất là các chị giúp tôi cho tôi sang Thị Nghè. Như vậy vừa đỡ phiền cho các chị, mà lại thuận tiện cho tôi.



Chị H. nhanh nhảu nói với chị X.:



- Hay là chị để cho em lấy Honda chở anh ấy thẳng sang Thị Nghè?



Chị X. lắc đầu:



- Em chở vậy đâu có được. Lỡ dọc đường gặp tụi nó hỏi giấy tờ thì sao?



Tôi cũng đồng ý:



- Dạ, chở như vậy nguy hiểm lắm. Chết cả chùm đó chị. Tốt nhất là các chị gọi cho tôi chiếc xe ôm…



Chị X. xua tay:



- Không được đâu. Đi xe ôm bây giờ lộ liễu, nguy hiểm lắm.



Chị H. lanh miệng:



- Hay gọi xích lô cho ảnh?



Chị B. nói ngay:



- Đi xích lô thì ại càng nguy hiểm, vừa lộ liễu lại vừa chậm rì à.



Chị X. dơ tay. Tất cả đều im lặng. Chị nói:



- Tôi nghĩ tốt nhất là mình gọi taxi…



Vừa nghe đến đó, các chị liền vỗ tay hoan hô. Tôi cũng thấy đó là giải pháp tốt nhất trong tình thế hiện nay. Chị H. vội vàng đứng dậy:



- Để em ra ngoài đường đón taxi…



Chị X. dơ tay kéo chị H. ngồi xuống:



- Không đón taxi trước cửa nhà được. Xe taxi bây giờ hiếm lắm. Đón trước cửa nhà như vậy vừa lâu lại vừa nguy hiểm, tụi nó dễ để ý. Chị nghĩ H. lấy xe Honda chạy xuống chợ Trương Minh Giảng, trước cửa Viện đại học Vạn Hạnh, gọi một chiếc taxi lên đây. Như vậy sẽ an toàn hơn cả.



Lại một tràng pháo tay nữa. Lần này có cả tôi. Tôi vừa vỗ tay vừa nhìn chị X. và các chị, như nhìn những ân nhân của cuộc đời. Chị H. vội đứng dậy đi ra cửa. Chị X. dặn với theo:



- Em nhớ mặc cả một cuốc xe từ đây sang Thị Nghè là bao nhiêu, rồi trả tiền trước cho tiện.



Nói đến đó, chị quay sang hỏi tôi:



- Anh định đến Thị Nghè, nhưng chỗ nào?



Tôi vội nói:



- Thưa chị, cứ đến chân cầu Thị Nghè là được…



Chị H. lặp lại mấy chữ “chân cầu Thị Nghè” rồi chạy ra sân, nổ máy Honda, phóng ra khỏi cổng.



Ngay khi chiếc xe Honda chạy khỏi sân, chị X. liền đứng dậy, quay qua nói:



- Rồi bây giờ tất cả chuẩn bị lè lẹ lên. Taxi có thể đến bất cứ lúc nào. Anh có đồ đạc gì cần chuẩn bị không?



- Dạ, không.



- Như vậy cũng tiện. Đồ đạc lỉnh kỉnh chỉ khiến tụi nó nghi ngờ.



Vừa nói, chị X. vừa lấy từ trong túi xách ra chiếc bóp. Mở bóp, chị lấy hết mấy tờ giấy bạc (tôi không nhớ là bao nhiêu) rồi dúi vô tay tôi, và nói, giọng run run:



- Anh… cầm lấy. Chút lòng… của tụi tôi…



Tôi cảm động quá, chưa kịp nói gì thì chị B. cũng bước tới, dúi vô tay tôi mấy tờ giấy bạc. Rồi chị T. cũng vậy… Hai bàn tay của tôi lúc đó lúng túng giữa những bàn tay ân tình…. Tôi nghẹn ngào xúc động khi thấy cuộc đời của tôi mỗi khi gặp hiểm nguy, luôn luôn may mắn có được những tấm lòng vàng giúp đỡ. Đó là những người tôi không hề quen biết, tôi không hề đem lại cho họ chút ân tình hay lợi lộc nào, nhưng mỗi khi tôi nói rõ hoàn cảnh khó khăn của mình, lập tức những người đó đều sẵn sàng chấp nhận mọi hiểm nguy giúp đỡ tôi. Trong suốt những tháng năm tôi bị VC săn đuổi trên chính quê hương, đất nước của mình, tôi đã gặp không biết bao nhiêu người, ở bất cứ đâu, trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, tôi cũng đều được giúp đỡ tận tình. Tôi càng bị VC săn đuổi, càng gặp hiểm nguy, thì những ân nhân cùng những ân sâu nghĩa nặng trong tâm trí của tôi càng được bồi đắp…



Xúc động trước những tấm lòng, xót xa cho cảnh ngộ của các chị, băn khoăn cho số phận của chính mình, tôi rưng rưng nước mắt nói:



- Em… cảm ơn các chị… Nhưng em…



Nói đến đó, tôi nghẹn lời… Nhìn các chị, tôi thấy các chị cũng rưng rưng lệ và mắt tôi cũng nhạt nhoà. Tiếng chị X. hay chị B. hay chị T. tôi không còn phân biệt được nữa:



- Tụi này giúp anh… Người khác sẽ giúp ông xã tụi này…



- Anh đi may mắn…



Ngay lúc đó, có tiếng còi xe. Mọi người vội dục tôi lẹ lẹ chạy ra cổng. Tội vội đưa tay quệt nước mắt. Tôi cố lau khô nước mắt để được nhìn các chị, được thu vào trong tâm trí của mình lần cuối hình ảnh của những ân nhân… nhưng không được…. Một bàn tay, hai bàn tay, ba bàn tay đẩy tôi đi… Tôi chạy đi, nhưng vẫn cố ngoái cổ lại để thấy hình ảnh các chị vẫn nhoà đi không rõ nét…. Chạy ra đến chiếc taxi đang chờ sẵn ngoài cổng, bước vô xe, tôi vừa kịp đóng cửa, thì chiếc xe đã vọt thẳng về phía cầu Trương Minh Giảng. Ngoái lại, tôi chỉ kịp nhìn thấy chị H. ngồi trên chiếc Honda và bàn tay của chị vẫy vẫy… rồi thoáng chốc mất hẳn giữa dòng xe cộ đông đúc của buổi chiều. Tôi quay lại, gục mặt vào hai bàn tay, hai mắt nhắm lại và tôi khóc nức nở, khóc ngon lành như một đức con nít, trong khi trí óc của tôi đầy ắp hình ảnh của các chị… những tiên nữ bằng xương bằng thịt trong một căn nhà ở đường Trương Minh Giảng, vào một buổi chiều của tháng 4 năm 1977…



KỲ 67



Sau khi an toàn trở lại Thị Nghè, ngay tối hôm đó, tôi trở lại nhà chị tôi ở cư xá Chu Mạnh Trinh. Vô đến nhà, chị tôi cho biết ngay, đã có người đem địa bàn và bản đồ nhờ chuyển cho tôi. Tôi mừng quá, vì đó là những thứ cần thiết cuối cùng tôi phải có trước khi lên đường vượt biên. Tôi cũng đem đầu đuôi câu chuyện tôi bị tụi vệ binh phát hiện, truy đuổi, khiến tôi phải chạy trốn ra sao và được giúp đỡ như thế nào… nhất nhất kể lại cho chị nghe. Nghe chuyện, chị tôi vừa mừng cho tôi lại vừa lo sợ thúc dục tôi nên vượt biên ngay. Riêng tôi lúc đó cũng thấy nếu tôi còn ở lại Việt Nam thêm ngày nào, sẽ nguy hiểm ngày ấy, và không sớm thì muộn, tôi sẽ bị bắt trở



lại. Con đường duy nhất tôi phải chọn và đã chọn là vượt biên. Bây giờ tôi đã có đầy đủ địa bàn, bản đồ thì tôi còn chần chờ gì nữa mà không lên đường.



Nghe chuyện tôi kể, chị tôi khuyên:



- Nhờ ơn bề trên và phúc phận của tổ tiên, nên cậu đã may mắn vượt qua bao nhiêu nguy hiểm. Nhưng ơn trên nào cũng cũng có giới hạn. Cậu chẳng thể nào gặp may mắn mãi mãi được đâu. May mắn càng nhiều thì khi rủi ro đến, nguy hiểm càng to. Cậu nghe lời chị, cậu phải lo đi ngay đi.



Tôi thưa:



- Chị nói rất đúng. Em cũng đã nghĩ như vậy, nên em đến bàn với chị, hôm nay là Thứ Bảy, mai là Chủ Nhật, em và hai cháu sẽ chuẩn bị để sáng ngày mốt, Thứ Hai tụi em sẽ lên đường. Chị nghĩ sao?



Chị tôi ngần ngừ, giọng chị xúc động:



- Chị nói đi ngay… là chờ khoảng hai ba tuần nữa hay đi, chứ đi ngay Thứ Hai này e sớm quá…



Tôi hiểu lòng của chị. Cũng giống như tất cả những người mẹ, người cha ở Miền Nam lúc đó, chị tôi chỉ muốn kéo dài giây phút được gần con. Chị không muốn xa con, dù trong lòng lúc nào chị cũng tha thiết muốn con của chị lên đường vượt biên thành công.



Tôi chậm rãi khuyên chị:



- Trong hoàn cảnh của em, chờ thêm ngày nào là nguy hiểm cho em, cho chị và cho các cháu. Em ra vô nhà của chị cũng nhiều, biết đâu đã có người để ý mà mình không biết? Linh tính cho em thấy càng ngày, em càng gần với nguy hiểm. Chị để cho em và hai cháu đi ngay đi. Thứ Hai này là ngày tốt nhất, em đã tính cả rồi…



Chị tôi gật đầu:



- Thôi thì cậu quyết định nhanh chóng như vậy chị rất mừng. Để chị liên lạc ngay với hai cháu cho chúng nó chuẩn bị. Cũng may là tất cả mọi thứ cần thiết, chúng đã chuẩn bị xong xuôi cả rồi. Bây giờ chỉ chuẩn bị thêm ít đồ ăn, thức uống dọc đường.



Tôi cười:



- Chuyện đồ ăn thức uống dọc đường, chị khỏi lo. Từ đây ra đến Đông Hà, đâu đâu cũng có hàng quán, tại sao phải mang theo đồ ăn cho thêm nặng nề? Điều quan trọng, chỉ cần mang đủ lương khô cho đoạn đường rừng xuyên biên giới Việt Lào thôi chị.



Chị tôi bảo:



- Cậu khỏi lo chuyện đó. Lương khô, thuốc sốt rét, thuốc chống muỗi, tôi đã chuẩn bị đầy đủ. Cả mùng mền, quần áo cho hai đứa, tôi cũng đã lo liệu xong. Chỉ còn cậu, tôi đã nói bao nhiêu lần…



Tôi lo ngại ngắt lời chị:



- Em đã thưa với chị, mình đi vượt biên, chứ không phải đi du lịch, cắm trại. Đi vượt biên mà mang đồ đạc lỉnh kỉnh đủ thứ trên người, là lậy ông tôi ở bụi này, đó chị. Em đã nói với chị, nếu mình đi tàu xe từ đây ra Đông Hà, hay đi lại giữa những thành phố lớn, đông người, thì chuyện chúng em mang đồ đạc lỉnh kỉnh trên người ít bị người khác để ý. Nhưng chị cứ tưởng tượng coi, ở một thôn quê hẻo lánh như thôn Mọc Đức, thôn Định Xá ở gần biên giới Việt Lào, bỗng dưng xuất hiện lù lù ba người lạ, nói năng đã khác, ăn mặc cũng khác hẳn dân địa phương, lại đeo ba lô nặng trĩu, thì thử hỏi tụi công an, bộ đội ở xã ấp, chúng thấy chúng có nghi ngờ, xét hỏi giấy tờ mình hay không?



Chị tôi ngạc nhiên:



- Nhưng cậu và các cháu đã có đầy đủ giấy tờ?



- Giấy tờ đó là giấy tờ giả, chứ không phải giấy tờ thiệt.



Chị tôi càng ngạc nhiên hơn:



- Sao hôm nọ cậu bảo đó là giấy tờ thiệt 100%?



Tôi giải thích:



- Dạ, em có nói với chị là giấy tờ thì thiệt 100% do người bạn của em lo. Nhưng người xử dụng giấy tờ đó là em với hai cháu thì giả 100%, nên giấy tờ đó chỉ dùng để qua mặt các trạm kiểm soát giao thông của VC ở dọc đường từ đây ra đến Đông Hà. Còn từ Đông Hà đến biên giới, thì em không thể dùng giấy tờ giả đó được.



- Vậy từ Đông Hà đến biên giới, cậu định dùng giấy tờ gì?



- Đến Đông Hà rồi thì không dùng được giấy tờ gì cả, vì ở đó cách biên giới không bao xa, và không có giấy tờ công tác nào cho phép mình đến gần biên giới cả. Vì vậy, khi đến đó rồi thì chỉ có hai cách. Cách thứ nhất là chúng em cũng phải ăn mặc lam lũ giống như người địa phương, rồi tìm cách trà trộn với dân chúng trong vùng. Nhưng cách này rất khó khăn, vì người địa phương ở đó rất ít, ai cũng biết mặt nhau, trà trộn với họ sẽ dễ bị họ nhận ra ngay. Phần nữa là mình mang theo đồ đạc lỉnh kỉnh thì càng dễ bị nhận diện. Đó là lý do em vẫn bảo hai cháu là đừng mang theo đồ đạc gì cả.



- Nhưng cậu cũng biết, hai đứa chúng nó tuổi còn trẻ, chưa đi xa bao giờ.



- Em biết chuyện đó và em rất thông cảm với hai cháu. Nhưng nếu các cháu mang theo nhiều đồ đạc lỉnh kỉnh thì em bảo đảm với chị 100% thế nào chúng em cũng bị bắt.



- Cậu nói gở như vậy thì thôi chị để hai đứa nó ở nhà…



Nói đến đó chị ôm mặt khóc, rồi nói trong tiếng nức nở:



- Đi vượt biên… mà cậu “bảo đảm 100% bị bắt” thì cậu và các cháu đi làm gì… cho nó khổ cậu, khổ các cháu, khổ cả chị…



Tôi phải khuyên can, giải thích cho chị tôi nghe từng ly từng tí về cách thức qua mắt tụi công an, bộ đội như thế nào, cách ăn mặc hóa trang khi vượt biên ra làm sao, và tại sao phải mang đồ đạc thật ít để khỏi bị nghi ngờ… Cuối cùng chị tôi chùi nước mắt, thở dài nói:



- Thôi thì cậu để chị cố khuyên bảo các cháu, mang bớt đi. Còn bao nhiêu đến bến xe Quảng Trị thì tìm cách vứt hết đi cho rảnh nợ.



Nói đến đó, như sực nhớ ra điều gì, chị tươi hẳn nét mặt hỏi tôi:



- Mà lúc nãy cậu nói có hai cách. Vậy cách thứ hai là cách gì?



Tôi ngẩn người một thoáng, mới nhớ ra điều chị hỏi. Tôi vội nói:



- Cách thứ hai là ngay khi xuống xe ở bến xe Đông Hà, chúng em phải tìm cách chui vô rừng ẩn nấp, rồi chờ đến tối khuya thì cắt rừng đi.



- Cậu nghĩ làm vậy có dễ thành công hơn không?



- Em nghĩ vậy đỡ nguy hiểm hơn. Vì trà trộn với dân địa phương là điều rất khó. Nhất là ở những vùng xa xôi hẻo lánh, dân ít, mọi người đều biết nhau, thì trà trộn với họ đâu có dễ. Nhưng muốn chui vô rừng ẩn nấp cũng khó khăn lắm. Nếu đến bến xe Đông Hà sớm thì phải chờ, chứ giữa ban ngày ban mặt mà mình chui vào rừng cũng dễ bị dân chúng chú ý lắm. Mà loanh quanh, luẩn quẩn chờ đợi ở bên xe lạ cho đến tối, cũng dễ bị tụi công an, nhân viên bảo vệ ở bến xe nghi ngờ.



- Nếu vậy, cậu và hai cháu phải tìm cách canh giờ giấc làm sao để đến được bến xe Đông Hà lúc trời tối?



- Em cũng muốn thế, nhưng được hay không còn tùy may rủi ở bến xe Quảng Trị nữa.



Từ đó cho đến khuya, hai chị em tôi ngồi tâm sự đủ thứ chuyện, trong nỗi niềm đau đớn của chia ly, nhung nhớ, nhất là khi nhắc đến Mẹ già còn đang sống cô đơn ở Hà Nội. Lúc đó, chỉ có nói với tôi, yên tâm lên đường vượt biên, chị ở lại sẽ tìm đủ mọi cách để đưa Mẹ vô Sàigòn phụng dưỡng. Sau này, tôi được biết, chị đã làm đúng như điều chị đã hứa. Nhưng sống ở Sàigòn ít lâu, Mẹ tôi lại nhớ Hà Nội, nhớ cô em gái út, nên lại trở ra Hà Nội sống.



* * *



Sáng sớm hôm Thứ Hai, trung tuần tháng 4 năm 1977, chúng tôi thức dậy từ tinh mơ mờ đất, chuẩn bị cho chuyến vượt biên bằng đường bộ. Tất cả hành lý đã sẵn sàng. Cháu gái tôi là BH và bạn trai là T đều “gọn gàng” mỗi người một chiếc ba lô với đầy đủ thứ cồng kềnh của một người đi cắm trại. Mặc dù tôi và chị tôi đã khuyên can nhiều lần, BH và T đã bỏ lại thật nhiều kỷ vật thương yêu nhất, cùng những đồ dùng cần thiết nhất, ba lô của mỗi người vẫn nặng trên 20 kí lô. Riêng tôi, chỉ có một chiếc túi nhỏ không đầy 5 kí lô, trong đó có địa bàn, bản đồ, một ít đồ dùng cá nhân, và cuốn thơ “Ngục Trung Nhật Ký” của “tác giả” Hồ Chí Minh dùng để nguỵ trang. Kinh nghiệm trong quá khứ cho tôi thấy, chính cuốn thơ “Ngục Trung Nhật Ký” đã cũ này, được để một cách “tình cờ” trong đống hành lý của tôi, quả thực đã đánh lừa được rất nhiều công an, cán bộ VC tại các trạm gác dọc đường. Thường đang lục lọi hành lý của tôi, bỗng dưng trông thấy cuốn thơ, lập tức thái độ hống hách của công an, cán bộ VC biến mất liền. Sau này, trên đường vượt biên theo ngả Hà Nội – Lạng Sơn, rồi Hà nội – Hải Phòng – Móng Cái, tôi cũng dùng mẹo vặt này, và thành công dài dài, ngoại trừ một lần ở gần Lạng Sơn thì lại vì cuốn “Ngục Trung Nhật Ký” mà tôi bị bắt. Nhưng đó là chuyện sau này, tôi sẽ trở lại tường thuật tỷ mỷ cùng qúy độc giả khi có dịp.



Trở lại chuyến vượt biên vào sáng Thứ Hai hôm đó, tôi cũng đã tính, một khi tới được Đông Hà, tôi chỉ giữ lại địa bàn, bản đồ và ít lương khô. Còn lại tôi cũng vứt hết để nhẹ nhàng, gọn gàng trong chuyến đi cắt rừng, xuyên biên giới. Tính toán như vậy, nhưng nhìn hai chiếc ba lô nặng trĩu hành lý của hai người cháu, tôi ngao ngán và lo ngại cho chuyến đi này lành ít dữ nhiễu.



Để hàng xóm khỏi chú ý, chị tôi đi ra khỏi nhà trước. Năm phút sau, BH đi theo. Kế đó là T và cuối cùng là tôi. Như đã thỏa thuận, chị tôi sẽ ra ngã tư Phú Nhuận đón xe taxi, thỏa thuận giá cả và trả tiền đầy đủ rồi ngồi trong xe chờ. Khi chúng tôi ra đến nơi, sẽ tự động lên xe, chào tạm biệt chị, chị sẽ xuống xe, và xe sẽ lăn bánh ra đi. Nhưng mọi việc diễn tiến không đúng như chúng tôi đã dự tính. Chờ xe taxi lâu quá, chị tôi phải gọi hai chiếc xích lô máy. Sau những giây phút bịn rịn, xúc động đến ứa nước mắt khi chị em, mẹ con phải chia tay nhau… ba cậu cháu leo lên hai chiếc xích lô máy, trực chỉ bến xe Miền Đông, giữa dòng xe cộ ngược xuôi như nước…



Khoảng 7 giờ sáng hôm đó, chúng tôi đến được bến xe Miền Đông. Vì lúc đó không có xe đò đi thẳng từ Sàigòn tới Quảng Trị, nên chúng tôi phải mua vé đi Huế. Tới Huế, chúng tôi mua vé xe đi Quảng Trị, rồi từ Quảng Trị mua vé xe đi Đông Hà. Suốt chặng đường từ Sàigòn đi Huế, Huế đi Quảng Trị, đều thuận buồm xuôi gió, ngoại trừ một vài trục trặc nhỏ, không đáng kể ra đây làm mất thì giờ của qúy độc giả. Nhưng trên chuyến xe từ Quảng Trị đi Đông Hà, chúng tôi có cảm giác bồn chồn, nôn nóng và lo sợ như ngồi trên ổ kiến lửa…



BỊ BẮT Ở ĐÔNG HÀ



Nhờ đã tính toán kỹ lưỡng trước khi khởi hành, nên tại bến xe Quảng Trị, chúng tôi đã “may mắn” mua được vé chuyến xe cuối cùng đi Đông Hà vào lúc 4 giờ chiều. Khi đó, tôi đinh ninh, xe sẽ đến Đông Hà vào lúc trời chập choạng tối, rất thuận tiện cho chúng tôi chui vô rừng ẩn nấp. Nhưng xưa nay, có không biết bao nhiêu chuyện mình tính toán bằng tất cả sự khôn ngoan của mình, nhưng thực tế khi xảy ra, mình mới nhận ra tất cả sự ngu ngốc của mình.



Chuyến xe cuối cùng từ Quảng Trị đi Đông Hà là chiếc xe đò loại nhỏ, có khoảng hơn 50 chỗ, nhưng vì là chuyến xe cuối cùng, nên trong xe chỉ có khoảng hơn hai chục người, trong đó có 3 chúng tôi. Ngay khi lên xe, chúng tôi đã nhận ra sự lạc lõng của mình với tất cả những hành khách còn lại trong xe. Nhất là khi có ít hành khách, mọi



người càng để ý đến sự lạc lõng của chúng tôi. Trong khi hành khách trong xe đều ăn mặc lam lũ, đồ đạc mang theo là thúng mủng, quang gánh, gà qué, rau trái… đủ loại, thì chúng tôi ăn vận không giống ai, đồ đạc ba lô thì lỉnh kỉnh, chỉ nhìn qua cũng đoán biết là dân đi vượt biên. Nhất là cháu gái BH và T, với nước da trắng trẻo, mày thanh mắt sáng, môi đỏ như son, ai nhìn cũng biết là dân Sàigòn.



Cảm nhận được sự lạc lõng của mình, chúng tôi lại càng im lặng không nói với nhau. Trong lòng tôi xốn xang và lo ngại vô cùng, nên rất lúng túng. Tất cả những hành khách trong xe cũng chụm đầu xì xầm bàn tán, trong khi ánh mắt của họ thỉnh thoảng lại hướng về phía chúng tôi, vẻ tò mò hiện lên rất rõ.



Để tránh sự chú ý của đám đông và đề phòng chuyện bất trắc, tôi đã nói mỗi người ngồi mỗi ghế, và tìm cách trò chuyện thân mật với hành khách ngồi cạnh mình. Nhưng BH và T nhất định không chịu ngồi xa nhau. Viễn ảnh một người bị bắt, một người chạy thoát, đối với BH và T là điều vô cùng đau khổ, khiến cả hai không chịu đựng nổi. Vì vậy, BH và T chấp nhận, thà bị bắt cả hai để được gần nhau còn hơn phải chia tay nhau… Tôi ngồi phía sau hai cháu, lòng tôi trăm mối ngổn ngang, vừa ân hận đau khổ vì mình đã nhận lời mang hai cháu đi vượt biên, vừa lo sợ trước viễn ảnh vô cùng nguy hiểm đang chờ đợi, mà tôi thì hoàn toàn bất lực…



Điều nguy hiểm nữa đối với chúng tôi là hành khách dần dần xuống xe dọc đường. Xe cứ chạy được khoảng vài cây số, là lại có một, hai hành khách kêu bác tài dừng xe. Vì là xe đò chạy tuyến đường hẻo lánh, miền rừng núi, nên có cả một số khách người thiểu số, nói tiếng thiểu số líu lô, tôi không hiểu họ nói gì. Nhưng nhìn ánh mắt của họ nhìn chúng tôi khi nói, rồi cười ầm lên, là chúng tôi đỏ mặt vừa lúng túng vừa lo sợ…



Đang lo sợ, hoảng hốt như vậy thì bà cụ ngồi phía sau tôi, kêu bác tài dừng xe cho xuống. Xe chạy chậm dần rồi dừng lại. Bà cụ đứng dậy, đi qua chỗ tôi, bỗng dưng đưa tay đập nhẹ vai tôi. Tôi giật mình nhìn lên, chưa kịp hiểu chuyện gì, thì bà cụ đã nói nhỏ:



- Tụi con cẩn thận nghe.



Nói xong, bà cụ không cần nghe tôi trả lời, thản nhiên đi về phía trước như không có chuyện gì, rồi bước xuống xe. Xe chuyển bánh, tôi nhìn qua cửa kính, thấy cụ cầm vật gì khua khua trong không khí. Tôi không biết cụ làm vậy cho ai, và có ý nghĩa gì. Nhưng câu nói của cụ “Tụi con cẩn thận nghe” đã như hồi trống báo động, làm cho tim tôi đập thình thịch. Lời cảnh cáo của cụ trong đó có hai chữ “Tụi con” chứng tỏ cụ đã nhìn rõ chúng tôi gồm có ba người, cùng những nguy hiểm đang chờ đợi chúng tôi phía trước…



Nhớ lại chuyến xe từ Dầu Tiếng về Bình Dương, sao tôi thấy hai chuyến xe, cùng trên đất nước Việt Nam mà lại khác nhau một trời một vực. Tôi tự hỏi, nếu trong chuyến xe này, tôi nói rõ cho mọi người biết, tôi là tù cải tạo vượt ngục, là người đang vượt biên, không biết mọi người trong xe sẽ đối xử với tôi ra sao? Họ sẽ giúp tôi hay bắt tôi trao cho công an? Tôi không biết chắc. Nhưng nếu chỉ có một mình tôi, tôi dám làm tất cả mọi chuyện. Đằng này, tôi còn hai cháu đi theo. Nếu tôi có một quyết định sai lầm, sẽ ảnh hưởng đến tự do và sự sống của hai cháu. Như vậy tôi không dám. Hơn nữa, nhớ lại thái độ thận trọng và câu nói nhỏ của bà cụ, tôi đoán ngay, tình hình trong xe không thuận lợi nếu tôi nói thật. Vì nếu thuận lợi, bà cụ đã không phải thận trọng và nói nhỏ với tôi. Nghĩ vậy, tôi ngồi im không dám làm gì, cho dù trong lòng như lửa đốt…



Trong khi đó, hành khách trên xe cứ xuống dần dần, xuống dần, để rồi cuối cùng chỉ còn lại có người tài xế, cậu lơ xe, và ba đứa chúng tôi. Nhìn ra bên ngoài, thấy trời đã chạng vạng tối, hai bên đường là rừng, cây cao cây thấp mọc chen nhau. Nếu như tôi chỉ đi có một mình, thì thật là dễ xử. Tôi chỉ cần bảo tài xế cho dừng lại, nhảy xuống xe, rồi chạy thẳng vào rừng là mất tăm. Trên xe, dù có ai nghi ngờ cũng không có một



ai dám đuổi theo tôi. Vào đến rừng rậm, tôi sẽ âm thầm, cắt đường xuyên qua biên giới. Trung bình mỗi giờ đi trong rừng khoảng 3 cây số, một đêm tôi cũng đi được khoảng 30 cây số. Với chiếc địa bàn, bản đồ, cùng khả năng sống trong rừng mà tôi đã được huấn luyện khi còn trong bộ đội, tôi tin, ngày nghỉ đêm đi, chỉ cần hai đêm là tôi vượt qua được biên giới Lào Việt. Nhưng trong hoàn cảnh lúc đó, nếu muốn bảo xe ngừng lại để xuống giữa đường, tôi phải bàn bạc với BH và T, chứ đâu có thể quyết định một mình. Mà bàn bạc trên xe, trong lúc này thì lại càng nguy hiểm. Thì ra, trong những lúc nguy hiểm, khi chỉ có một mình, tôi dám có những quyết định liều mạng, vì quyết định đó chỉ ảnh hưởng đến tự do, mạng sống của riêng mình. Mình dám làm thì dám chịu. Còn khi quyết định của mình có liên quan đến tự do và mạng sống của người khác thì tôi lại không thể đơn phương làm một mình. Và đó là sự bế tắc, khiến tôi phải ngồi đó, bất động và hoàn toàn thụ động, khi thấy mình dần dần đi vào bẫy sập ở một nơi nào phía trước mặt. Tôi không biết chính xác bẫy sập đó ở chỗ nào, nhưng tôi chắc chắn bẫy sập đó sẽ không xa bến xe Đông Hà, và không lâu sau khi chúng tôi xuống xe. Ở đó, trong bóng tối chập choạng đang bao phủ rừng núi phía tây tỉnh Quảng Trị, cùng với những luồng khí lạnh buốt của núi rừng, những tên bộ đội, những tên công an áo vàng với súng ống đầy đủ và còng số 8, sẽ xuất hiện, chờ đợi trong tư thế sẵn sàng để tóm gọn ba đứa chúng tôi…



KỲ 68



Qua kiếng chiếu hậu của chiếc xe đò, tôi thấy người tài xế thỉnh thoảng nhìn về phía chúng tôi, ánh mắt đầy vẻ xa lạ, né tránh. Cậu lơ xe thì vừa nhìn ra đường, vừa hát nghêu ngao bài “Trường sơn đông, Trường sơn tây”. Trong xe, bầu không khí thiệt nặng nề. Cả ba chúng tôi đều im lặng vì không biết nói với ai và nói gì. Khi thấy một vài nóc nhà hiện lên dọc đường, báo hiệu gần tới thị trấn Đông Hà, người tài xế quay lại gọi cậu lơ xe tới gần rồi nói nhỏ với cậu điều gì đó. Cậu lơ xe gật gật đầu, thỉnh thoảng đưa mắt nhìn trộm chúng tôi. Tuy không biết người tài xế nói gì với cậu lơ xe, nhưng xem thái độ của hai người, tôi biết điềm này lành ít dữ nhiều. Biết vậy, nhưng tôi đâu biết làm gì, đành thúc thủ chờ đợi.



Xe chạy vô bến Đông Hà lúc trời vừa chập choạng tối. Xe chưa kịp dừng bánh hẳn, đã thấy cậu lơ xe nhảy khỏi xe, chạy vội vã về phía căn nhà nhỏ nằm cuối bến xe. Khi xe dừng bánh, chúng tôi lần lượt đứng dậy, đi về phía trước xe để xuống. BH, T và tôi đều cất tiếng chào người tài xế, nhưng ông chỉ gật đầu không đáp. Khi chào ông, tôi nhìn thẳng vô mặt ông, như muốn ngấm ngầm trao gửi cho ông một câu hỏi, một lời trách móc, nhưng ông né tránh.



Vừa bước xuống xe, một cơn cuồng phong cuốn theo không biết bao nhiêu cát bụi thổi thốc vào mặt. Chúng tôi phải quay người, nép vào thành xe chống đỡ. Vậy mà mặt mũi miệng, vẫn thấy đầy cát. Đưa mắt quan sát chung quanh, dù lúc đó trời đã chập choạng tối, nhưng tôi vẫn thấy cả bến xe chỉ có hai chiếc xe đò, kể cả chiếc xe vừa chở chúng tôi tới. Phía bên trái của bến xe có vài chiếc quán siêu vẹo, tất cả đều đóng cửa. Nằm về phía bên phải của bến xe có một căn nhà bằng gạch, cửa tuy đóng, nhưng qua cửa sổ, tôi thấy có ánh đèn. Tôi đoán, đó vừa là trạm kiểm soát, vừa là trạm bán vé, và cậu lơ xe nghe lời tài xế đã chạy vô trong đó báo cáo về “3 người khách khả nghi chúng tôi” trên xe. Như vậy, tôi đoán, không sớm thì muộn, công an bộ đội sẽ xuất hiện kiểm tra giấy tờ và bắt giữ tụi tôi.



Lòng đầy lo ngại, tôi nói nhỏ với BH và T, “Chúng mình phải đi lẹ lẹ lên. Tụi nó sắp đến tóm cổ mình rồi đó!” Nghe vậy BH vội run lên, hai tay níu chặt tay Tuấn, thảng thốt hỏi tôi:



- Vậy mình phải làm sao bây giờ cậu?



T cũng hoảng hốt không kém. Đưa mắt nhìn chung quanh, T bồn chồn:



- Bây giờ đi đâu đây cậu?



Nhìn thấy BH lúng túng với chiếc ba lô cồng kềnh, tôi giằng lấy đeo lên vai, rồi vừa rảo bước vừa nói:



- Đi theo tôi ra khỏi bến xe này đã rồi tính…



BH ríu ríu đi theo tôi. T đi sau cùng. Không ngoái đầu lại, tôi nói:



- Cứ lặng lẽ đi theo tôi. Đừng nhìn ngang nhìn ngửa gì cả. Cũng đừng nói chuyện gì hết. Tụi nó trong căn nhà kia đang theo dõi mình đấy…



Nói xong, tôi nghĩ những lời mình nói có thể làm cho BH và T hoảng hốt. Mà sự hoảng hốt trong lúc này thiệt vô cùng nguy hiểm. Vì vậy, tôi vội trấn an bằng một câu đầy mâu thuẫn với câu trước:



- Cứ yên tâm từ từ đi. Cố đi một đoạn ngắn trên đường lộ, rồi mình chuồn vào rừng. Trời tối thế này, chúng sẽ không kiếm ra mình đâu.



Đường xuyên biên giới từ Đông Hà sang Lào tuy là quốc lộ nhưng nhỏ, dốc, băng qua nhiều đồi, núi và dòng suối. Ngay khi ra khỏi bến xe, đi được một đoạn đường vài trăm thước, chúng tôi đã phải đổ dốc. Xuống đến chân dốc gặp một đoạn suối chảy băng ngang. Tuy nước suối chỉ xâm xấp ngập mặt đường khoảng một gang tay, nhưng vì mặt đường làm bằng những tảng đá lởm chởm, ngay cả xe hơi đi qua cũng phải nghiêng ngửa, nên chúng tôi bước đi rất khó khăn. Nhất là BH, một cô gái sinh ra và lớn lên ở Sàigòn, học trường đầm, chưa bao giờ gặp hoàn cảnh này, nên rất lúng túng và sợ hãi. Dù không phải mang ba lô trên vai, lại được T. đi bên cạnh giúp đỡ, BH vẫn vừa đi nghiêng ngửa, té lên tế xuống, vừa kêu lên những tiếng thảng thốt… Phải mất gần 10 phút đồng hồ, chúng tôi mới vượt được dòng suối cạn khoảng hai chục thước, sang được đến bên kia bờ an toàn. Đến đây, chúng tôi lại phải gặp khó khăn thứ hai là leo dốc. Dốc không dựng đứng, nhưng xiên xiên cả một chiều dài gần 300 thước, khiến chúng tôi muốn ngộp thở. Lúc đó trời đã tối hẳn, nhưng nhìn ra hai bên đường, tôi thấy không có chỗ nào thuận tiện để có thể chui vô ẩn nấp. Tôi tính thầm trong bụng, chờ lên đến đỉnh dốc, có được tầm quan sát chung quanh, định được phương hướng rõ ràng, lúc đó chúng tôi sẽ phải tạt vô rừng càng sớm càng tốt. Chứ ba người cứ đi dọc theo đường lộ này, không sớm thì muộn sẽ bị tụi bộ đội công an biên phòng bắt giữ.



Tôi không ngờ khi leo dốc, BH và T lại gặp nhiều khó khăn. Vì đi bộ không quen, lại phải leo dốc, trời lại tối, nên đoạn dốc chỉ khoảng 300 mét, nhưng phải mất gần 20 phút đồng hồ, chúng tôi mới leo được tới đỉnh dốc. Để BH và T ngồi nghỉ mệt, tôi âm thầm quan sát chung quanh. Trước mắt tôi, con đường dốc hiện ra mờ mờ, báo hiệu chặng đường sắp tới sẽ càng ngày càng dốc, càng nguy hiểm. Đi ngoài đường quốc lộ, gặp dốc còn khó khăn vất vả như vậy, đi trong rừng gặp dốc chắc chắn sẽ còn khó khăn vất vả gấp bội. Dọc theo hai bên đường, tôi thấy thấp thoáng những ánh đèn leo lét, nằm rải rác. Đó có thể là nhà dân, nhưng cũng có thể là nhà của công an, bộ đội đóng tại Đông Hà. Nghĩ đến những người dân đi trên xe đò lúc trước, tôi thầm nhủ, ngay cả biết chắc một trong những ngôi nhà ven đường là nhà dân đi nữa, chúng tôi cũng không dám chui vô gõ cửa xin tá túc. Tình thế này, chúng tôi phải đi bộ ít nhất một, hai cây số dọc theo đường quốc lộ, rồi mới nghĩ đến chuyện tạt vô rừng ẩn nấp.



Quay sang BH và T, tôi hỏi nhỏ:



- Sao đã đỡ mệt chưa?



BH chán nản, năn nỉ:



- Mệt quá cậu ơi. Cho tụi cháu nghỉ chút nữa đi.



T lồm cồm đứng dậy, hỏi tôi:



- Sao mình không tạt vô rừng nghỉ ngơi một vài giờ rồi hãy đi, cậu?



Tôi trả lời, giọng khuyến khích:



- T. nói đúng lắm. Chúng mình chịu khó đi bộ khoảng nửa cây số nữa rồi tạt vô rừng nghỉ ngơi. Chỗ này toàn nhà ở hai bên đường, không biết là nhà dân hay nhà công an bộ đội, nếu mình tạt vô họ sẽ nghi ngờ, báo động tùm lum nguy hiểm lắm. Thôi BH chịu khó đứng dậy, đi cố một đoạn nữa đi…



BH uể oải đứng dậy. Nhìn BH tôi xót xa. Trong bóng tối, dưới ánh sao, tôi thấy cặp mắt của BH long lanh. Tôi đoán, cháu đã khóc. Khóc vì mệt nhọc lo sợ, vì tủi thân, vì không biết số phận của mình sẽ đi về đâu, giữa quang cảnh âm u của núi rừng. Tôi muốn nói vài lời an ủi, động viên BH, nhưng sợ BH thêm xúc động, đau lòng, nên tôi quay mặt, cố nén tiếng thở dài, rồi mệt nhọc cất bước…



Đi được khoảng hai trăm thước, trong lòng tôi đã khấp khởi mừng thầm, vì cho đến giờ, tôi vẫn không thấy dấu hiệu gì nguy hiểm như tôi thoạt lo ngại khi xuống xe. Cứ theo lẽ thường, sau khi được cậu lơ xe thông báo, công an bộ đội VC phải ra tay bắt giữ chúng tôi từ lâu mới phải, vì chúng tôi ba người, đều không có một tấc sắt trong tay. Giữa lúc tôi đang hy vọng một cách mong manh như vậy, bỗng nhiên từ phía trước, ở hai bên đường, một loạt hàng chục ánh đèn bấm loang loáng rọi thẳng về phía chúng tôi. Một tiếng hét thiệt lớn, lơ lớ giọng người thiểu số, vang lên trong đêm tối:



- Đứng “nại”!



Kèm theo tiếng hô là tiếng lên đạn lách cách. Tôi giật mình, điếng người. Thoáng nhìn, tôi biết ngay tình thế này không tài nào tẩu thoát. Khoảng hơn chục chiếc đèn bấm chiếu thẳng vào mặt chúng tôi. Như vậy, phải có ít nhất hơn chục tên công an, bộ đội với đầy đủ súng ống đang chặn đường chúng tôi. Sợ BH hay T vì hoảng hốt lúng túng, dễ có hành động liều mạng, hoặc có cử chỉ làm cho mấy tên công an hiểu lầm, gây nguy hiểm đến tính mạng, nên tôi vội nói nhỏ, “Mình đứng lại đi, đừng sợ!”



Tiếng hét thứ hai lại vang lên, cũng lơ lớ giọng người thiểu số:



- Giơ tay “nên”!



Chúng tôi vội vã giơ tay. Những ánh đèn bấm lúc này vẫn loang loáng chiếu rọi lung tung. Chiếc thì chiếu vào mặt chúng tôi, chiếc thì chiếu lên người, chiếc thì chiếu sang chung quanh, quét ngang quét dọc.



Người “thiểu số” lại hét lên:



- Tất cả đứng im. Cấm nhúc nhích. Đồng chí X và đồng chí Y (tôi không nhớ tên nên tạm gọi như vậy) vô giải giới và tịch thu tang vật.



Nghe y hô vậy, tôi đang hoảng hốt lo sợ mà cũng phải bật cười. Sự thực, ai cũng nhìn thấy rõ chúng tôi đâu có mang theo vũ khí gì đâu mà sao y lại hô đòi đòi giải giới chúng tôi?



Hai tên X và Y bước lại. Cả hai đều không có súng. Khi đến cách tôi khoảng ba thước, tên X ra lệnh cho tôi bước về phía tay phải năm bước. Thì ra chúng rất khôn ngoan, trước hết, chúng không mang theo súng khi lại gần là để tránh tình trạng chúng tôi có thể liều mạng cướp súng. Sau đó, chúng bắt tôi đứng cách xa BH và T để khi “giải giới” tôi, BH và T không thể lợi dụng để có những phản ứng bất lợi. Về sau này, tôi mới được anh em trong trại tù Đông Hà cho biết, lực lượng canh phòng suốt từ Đông Hà về đến biên giới là lực lượng hỗn hợp thuộc bộ đội quốc phòng và công an biên phòng. Vì vậy, lực lượng này đều có kinh nghiệm trong việc đối phó và bắt giữ những người chống đối, cũng như người vượt biên.Sau khi gỡ chiếc ba lô ra khỏi vai của tôi, tên X và Y trói tôi giật cánh khuỷu bằng sợi dây dù. Không đầy 5 phút sau, T cũng bị trói tương tự. Riêng BH có lẽ vì con gái, nét mặt rất ngây thơ, nên không bị trói. Như vậy là một lần nữa, tôi lại bước vào vòng tù tội.



Cho đến lúc đó, tất cả những tên bộ đội công an không hề hỏi giấy tờ của chúng tôi và cũng không hỏi chúng tôi đi đâu, làm gì, tại sao lại đến đây, vân vân. Ngược lại, chúng tôi cũng lẳng lặng để cho chúng trói, tịch thu đồ đạc mà không hề hỏi ngược lại chúng, tại sao lại bắt trói, tịch thu đồ đạc của chúng tôi.



Hành động ngang ngược của tụi công an, bộ đội; và thái độ im lặng chấp nhận của chúng tôi là điều dễ hiểu. Công an bộ đội VC đã biết rõ chúng tôi đang trên đường vượt biên, và chúng tôi cũng biết rõ điều đó. Vậy thì cãi lộn với chúng chẳng thể xoay chuyển được tình thế, mà còn tạo nguy hiểm cho chính mình. Tốt nhất là im lặng như đã bàn bạc với nhau.



Đúng ra, trước khi lên đường vượt biên, tôi đã bàn rất kỹ với BH và T về những kế hoạch đối phó khác nhau nếu chẳng may bị bắt ở những nơi khác nhau. Chúng tôi đã đồng ý, nếu như bị VC hạch hỏi giấy tờ hay bị bắt ở bến xe, trạm kiểm soát dọc đường, chúng tôi còn có thể dùng giấy tờ giả cộng với những lời khai khôn khéo để qua mặt. Còn từ Đông Hà trở đi, mọi giấy tờ giả đều vô hiệu, nên chúng tôi đồng ý huỷ hết giấy tờ giả, và chấp nhận, nếu bị bắt, chúng tôi sẽ tỏ ra ngây thơ và “thành khẩn nhận tội vượt biên” ngay từ đầu. “Ngây thơ và thành khẩn nhận tội” như vậy, chúng tôi có được mấy điều lợi. Một, chúng tôi sẽ tạo cho công an bộ đội VC chủ quan, coi thường. Như vậy, khi gặp điều kiện thuận lợi, chúng tôi sẽ trốn trại. Hai, chúng tôi sẽ không phải gặp khó khăn khi bị VC thẩm vấn điều tra. Như vậy, chúng sẽ khó lòng phát hiện ra lý lịch và tội trốn trại của tôi, ít nhất là trong thời gian đầu giam giữ tôi.



Sau khi trói tôi và T, tụi VC hơn chục đứa gồm cả người kinh lẫn người thiểu số, xúm xít giải chúng tôi về đồn công an biên phòng, cách đó khoảng một cây số. Trên đường đi, chúng đều cười nói hô hố, trong khi chúng tôi thì rầu rĩ vô cùng. Tôi tuy lo ngại cho cái quá khứ trốn trại của mình, không sớm thì muộn sẽ bị tụi VC phanh phui, nhưng vẫn còn cố giữ được vẻ điềm tĩnh. Riêng BH thì khóc xụt xịt, khiến tôi đau đớn, thương cho cháu vô cùng, nhưng không biết làm thế nào…



Đồn công an biên phòng Đông Hà là một dẫy nhà tranh chạy dài, được ngăn ra làm nhiều phòng, trông rất sơ sài, tiêu điều. Chúng tôi bị giải vô một căn phòng, trong chỉ có chiếc bàn bằng cây, ghế cũng bằng cây chậy dài, được đóng dính liền với bàn. Trên trần chỉ có một ngọn đèn khoảng 50w toả ra thứ ánh sáng vàng vọt yếu ớt.



Một tên bộ đội đeo lon đại uý, chỉ tay vào góc phòng, ra lệnh cho chúng tôi ngồi xuống đất. Hai tên bộ đội khác, mang 2 chiếc ba lô và chiếc túi xách của tôi để trên bàn. Kế đó, chúng lần lượt mở tung tất cả ba lô và túi xách, lấy ra tất cả mọi vật dụng để lên trên bàn. Một tên khác lấy giấy bút, rồi một tên nhặt từng món đồ, đọc to cho tên kia ghi xuống giấy. Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, ghi chép xong, chúng lại bỏ tất cả mọi thứ trở lại ba lô và túi xách.



Ngồi trong góc phòng, chúng tôi bị muỗi đốt khắp cả người, nhất là mặt và hai bàn tay bị trói. BH không bị trói còn đỡ, còn tôi và T thì thật kinh hoàng, cả người luôn vặn vẹo, đầu xoay lắc liên tục, nhưng vẫn không thoát được cuộc tấn công dữ dội của cả đàn muỗi…



Sau khi bỏ hết đồ đạc vô trong ba lô, tên đại uý phẩy tay ra hiệu cho mấy tên bộ đội ra ngoài. Trong phòng chỉ còn lại có 3 tên. Tên đại uý chỉ tay vô băng ghế phía bên kia, rồi hướng về phía chúng tôi nói chỏng:



- Lại ngồi xuống đó.



Chúng tôi lần lượt đứng dậy bước về phía chiếc ghế rồi ngồi xuống. Tôi ngồi đầu bàn, kế đó là T, sau cùng là BH. Phía bên kia, tên đại uý đứng một chân còn một chân y đặt lên ghế. Hai tên bộ đội khác không đeo quân hàm đứng hai bên. Tên đại uý hỏi:



- Các anh vượt biên?



Chúng tôi im lặng.



Tên đại uý nhếch mép, đưa tay chỉ vô đống ba lô và túi xách của chúng tôi rồi cười khẩy:



- Tất cả những thứ này là bằng chứng đủ để buộc các anh tội vượt biên. Các anh vô phương chối cãi. Vì vậy, tốt nhất là các anh nên thành khẩn nhận tội để được đảng và nhà nước khoan hồng.



Chỉ vào mặt tôi, tên đại uý gằn giọng:



- Sao, anh có nhận tội vượt biên hay không?



Tôi thản nhiên gật đầu:



- Tôi nhận.



Tên đại uý mỉm cười đắc chí. Chỉ tay sang T., tên đại uý hỏi:



- Còn anh, có nhận tội không?



T gật đầu:



- Tôi nhận.



Quét ánh mắt cú vọ sang BH, tên đại uý hỏi: “Còn chị thì sao?”



BH xụt xịt gật đầu, không nói.



Tên đại uý gật gù đắc ý:



- Tốt, như vậy là các anh, chị đã tỏ ra thành khẩn nhận lỗi. Nhưng đó chỉ là bước đầu. Bây giờ tôi muốn các anh chị, mỗi người vô một phòng riêng để cung khai tất cả sự thật về chuyến vượt biên này. Các anh chị phải ghi rõ, họ tên, ngày tháng năm sinh, tên cha, tên mẹ, địa chỉ của mình, những gì các anh chị đã chuẩn bị cho chuyến vượt biên và vượt biên như thế nào, từ khi ra đi ở đâu, ngày giờ nào, cho đến khi các anh chị bị chúng tôi bắt. Nếu các anh chị khai đúng sự thực, ba người khai đều giống nhau, thì sẽ sớm được đảng và nhà nước khoan hồng, cho về với gia đình. Trái lại, nếu ngoan cố, các anh chị sẽ bị tù rục xương.



Nói đến đó, tên đại uý đập tay xuống bàn đánh rầm, làm cho chúng tôi giật nảy mình. Tôi không biết BH và T có giật mình thiệt hay không, riêng tôi, tôi giả vờ giật mình, với vẻ mặt sợ sệt. Đây là vai kịch tôi đã chọn và đóng trọn vẹn vai trò ngây thơ sợ hãi của mình trong suốt những ngày tháng bị giam tại Đông Hà, cũng như trên đường chúng tôi bị giải giao về Lao Thừa Phủ ở Huế. Nhờ vậy, sau này hai tên công an giải giao chúng tôi về Huế đã chủ quan, coi thường, tạo cho tôi có cơ hội chạy thoát ngay giữa thành phố Huế, khi chúng tôi cách Lao Thừa Phủ chỉ có không đầy 100 thước.



KỲ 69



Tối hôm đó, tôi phải mất hơn 1 tiếng đồng hồ để viết xong bản “tự khai”. Cầm bản “tự khai” của tôi, tên thiếu úy không hề đọc một chữ, chỉ hỏi:



- Anh khai báo thế này có thành thật không đó?



Tôi trả lời với giọng đầy vẻ ăn năn, hối hận:



- Thưa ông, tôi dại dột nghe người ta xúi dại nên vượt biên, chứ quả thật, tôi chẳng biết gì. Nay tôi rất ăn năn nên đã thành thật khai báo đầy đủ để được cách mạng khoan hồng…



Tên thiếu úy nhếch mép:



- Anh nói làm như tụi tôi ngu lắm. Trong ba người, anh lớn tuổi nhất, chỉ nhìn qua cũng biết anh là người cầm đầu. Chính anh xúi dại hai người kia, chứ ai xúi dại anh?



Tôi sợ sệt:



- Dạ ông nói rất đúng. Chính tôi đã rủ rê hai người kia. Nhưng người xúi dại tôi thì lại là người khác.



Tên thiếu úy hách dịch:



- Người đó là ai? Anh có khai tên tuổi người đó rõ ràng trong bản “tự khai” này không?



Tôi nói giọng thành khẩn, pha chút sợ sệt:



- Thưa ông có. Tôi đã khai đầy đủ tất cả trong này.



Tên thiếu úy phẩy tay:



- Được rồi. Nói vậy biết vậy. Thành thật hay không, mai này sẽ biết. Thành thật thì được khoa hồng. Không thành thật thì bị trừng trị đích đáng. Bây giờ anh ngồi im đây chờ.



Nói xong, tên thiếu uý đi ra ngoài, sau khi đóng cửa và khóa cẩn thận.



Ngồi trong căn phòng nhỏ hẹp, mỗi chiều khoảng ba thước, dưới ngọn đèn điện vàng vọt, tôi thấy chán nản vô cùng. Như vậy là kể từ khi trốn thoát trại tù cải tạo ở chân núi Bà Đen cho đến nay, tôi mới được tự do có mấy tháng trời. Bây giờ, bị bắt lại, tương lai của tôi thật cực kỳ bi đát. Trước mắt, trong vài tuần lễ đầu, VC có thể không biết rõ lai lịch của tôi, nên cuộc sống của tôi trong tù có thể tạm ổn. Nhưng sau này, qua điều tra, phối kiểm tin tức, chúng sẽ biết rõ tôi là ai và khi ấy, tôi khó có thể thoát khỏi án tử hình, hoặc chung thân. Vì vậy, tôi chỉ có một con đường duy nhất, phải trốn trại tù này bằng mọi giá, và phải trốn trước khi chúng kịp phanh phui ra lý lịch của tôi. Tôi biết, từ đây đến biên giới Việt Lào chỉ khoảng 50 cây số đường chim bay. Nếu trốn ra khỏi trại tù này, tôi chỉ cần hai ngày đêm cắt rừng là có thể sang được đất Lào an toàn. Vấn đề quan trọng nhất bây giờ là làm sao tôi có thể trốn thoát khỏi trại tù Đông Hà? Tôi hy vọng, trong những ngày đầu, khi chưa biết rõ lý lịch của tôi, VC sẽ chỉ coi tôi là một thanh niên thuần tuý vì nghe người khác xúi dục, nên vượt biên. Như vậy, chúng sẽ lơ là canh gác, thuận tiện cho việc tôi vượt ngục.



Đang nghĩ ngợi liên miên, thì có tiếng xích sắt loảng xoảng, rồi cửa mở. Tên thiếu uý lúc nãy xuất hiện, tay vung vẩy mấy chiếc còng. Hắn bảo tôi:



- Đưa tay đây.



Tôi ngoan ngoãn đưa tay cho hắn còng. Còng xong, hắn đẩy tôi ra ngoài cửa. Đứng chờ sẵn ở bên ngoài có hai tên công an, mặt mũi lầm lì, súng AK-47 hườm sẵn bên hông. Để tôi đứng đó cho hai tên công an canh, tên thiếu uý bước vô phòng kế, còng T đem ra ngoài. Bước vô phòng thứ ba, tên thiếu uý mang BH ra ngoài, nhưng BH thì không bị còng. Xong, tên thiếu uý và hai công an giải chúng tôi đi trên những con đường quanh co ở triền đồi. Trời đêm đầy sao, rừng núi trùng điệp bao bọc chung quanh, khí lạnh lan tỏa, nhưng tôi vẫn thấy thoang thoảng đâu đây một mùi hoa, nhưng không rõ là hoa gì. Khủng cảnh thật là u mặc, hư hư thực thực, khiến tôi bâng khuâng xót xa cho số phận của người, của mình…



Đi khoảng 15 phút, chúng tôi thấy hiện ra trước mắt một dẫy lán lụp sụp, lán nào lán nấy cao chỉ hơn một thước, chiếc nọ cách chiếc kia khoảng 5 thước. Trời lúc đó đã khuya, nhưng nhờ ánh sao, tôi cũng thấy được trong lán có nhốt người. Đến trước cửa một chiếc lán, tên thiếu uý ra hiệu cho mọi người đứng lại, rồi y lấy chìa, loay hoay mở khóa. Mang tiếng là cửa, sự thực đó chỉ là những khúc cây sần sùi, còn nguyên cả vỏ được ghép lại bằng dây kẽm gai, bằng đinh và bằng gỗ. Tuy cánh cửa được làm một cách thô sơ, rừng rú, nhưng chắc chắn, kiên cố vô cùng.



Mở khóa xong, kéo cánh cửa cây sang bên, tên thiếu uý quay lại chỉ vào mặt BH, rồi nói:



- Chị đi vô…



BH dúm người sợ hãi. Từ bé đến lớn, ăn học ở Sàigòn, BH chưa bao giờ sống xa người thân. Nay trong hoàn cảnh tù ngục, lại phải sống giữa núi rừng âm u, làm sao BH có thể sống cô đơn một mình được. BH hoảng hốt năn nỉ tên thiếu uý:



- Chú… làm ơn cho chúng tôi ở chung một lán.



Tên thiếu uý lắc đầu:



- Hừ, chung một lán? Làm gì có chuyện đó. Chị phải biết, đây là trại tù chứ không phải quán trọ. Nam giam riêng, nữ giam riêng, nghe rõ chưa?



Nói đến đó, tên thiếu uý gằn giọng:



- Đi vô!



BH kinh hoàng quay sang tôi và T, khóc nức nở. Tên thiếu uý quát to:



- Có đi vô không thì bảo. Không là chúng tôi phải xử lý biện pháp mạnh. Lúc đó thì đừng có trách.



Nói xong, tên thiếu uý nhìn viên công an gật đầu. Lập tức tên công an bước lên một bước, thúc mũi súng AK vô lưng BH. Cả thân thể rung lên, BH hoảng hốt òa khóc, cố bệu bạo nói cái gì, tôi nghe không rõ. Vừa nói, BH vừa cúi người chui vô trong lán. Tên thiếu uý loay hoay khóa cửa, trong khi tiếng khóc của BH vang lên trong đêm khuya nghe thật não nùng, đau đớn. Nghe tiếng khóc, T đứng im chịu trận, đầu cúi xuống, gương mặt thiểu não đầy vẻ chịu đựng trong đau khổ và bất lực.



Sau khi tống giam BH xong, viên thiếu uý đưa chúng tôi vô một chiếc lán khác cách đó không xa. Chui vô trong lán, tôi mới có dịp quan sát kỹ lưỡng. Lán rộng mỗi chiều khoảng 5 thước, chung quanh, trên nóc và cửa ra vô đều làm bằng những khúc cây to bằng bắp vế chân, có chằng giây kẽm gai kiên cố. Riêng sàn lán làm bằng những miếng nhôm có chiều ngang khoảng thước hai, bề dầy khoảng 15 phân, bề dài suốt chiều ngang của lán. Phía dưới sàn là một căn hầm, cửa hầm cũng làm bằng cây, nhưng tương đối sơ sài so với cửa lán. Điều thê thảm nhất là những lán tù này chỉ có chiều cao khoảng hơn thước. Vì vậy, khi vô lán, chúng tôi phải chui. Vô trong lán thì chỉ được ngồi hoặc nằm. Người nào cao thì khi ngồi, đầu cũng gần đụng trần lán. Kiểu cấu trúc này thật dã man, khiến chúng tôi mất luôn thói quen đi đứng, chạy nhảy cho khí huyết lưu thông; và khi mỏi lưng, chúng tôi chỉ còn cách nằm dài ra mà vươn vai, co chân co tay.



Trại giam Đông Hà chỉ là trại tạm giam. Những người bị giam ở đây gồm có hai thành phần chính. Một là những người vượt biên theo đường bộ. Hai là những người phạm tội hình sự chưa thành án. Tất cả đều chờ đợi để đưa về trại giam của tỉnh Quảng Trị, hoặc đưa về lao Thừa Phủ ở Huế. Vì vậy, mọi khai báo, lấy khẩu cung, chỉ có tính hình thức. Ban quản giáo của trại giam không hề quan tâm đến chuyện khai đúng, khai sai, mà chỉ biết giam giữ tù nhân thật cẩn thận, chờ ngay có lệnh, giải giao đến nơi đến chốn tới những nơi được yêu cầu.



Do nhu cầu sản xuất của trại giam Đông Hà, tù nhân chúng tôi cũng phải đi lao động ngoài rừng. Công việc chủ yếu chúng tôi phải làm là chặt cây, đốt than, trồng khoai mì, thu hoạch chuối, và cuốc đất trồng lúa, trên những thửa ruộng bậc thang, hoặc trong những thung lũng. Tất cả những lần ra ngoài lao động, đều có bộ đội hoặc công an canh gác rất cẩn mật.



Như đã suy tính từ trước, ngay khi chui vô trong lán, tôi đã nghĩ ngay kế vượt ngục. Qua theo dõi một thời gian ngắn, tôi thấy tôi chỉ có thể vượt ngục bằng hai cách. Cách thứ nhất là vượt ngục ngay khi đi lao động. Vượt ngục cách này thì thuận tiện, vì chỉ cần lợi dụng lúc bộ đội, công an, sơ ý, mình liều mạng bỏ chạy vô rừng là thoát. Tuy nhiên, vượt ngục kiểu này rất nguy hiểm, vì chỉ cần một giây phút sơ sểnh là bị bắn bỏ mạng. Qua câu chuyện của những bạn tù, tôi được biết, trong quá khứ, đã có nhiều người bị bắn chết khi chạy trốn trong lúc đang lao động trong rừng. Vì là một trại giam ở địa phương, giáp với biên giới Việt Lào, nên đa số tù hình sự ở đây cũng rất liều mạng. Họ sẵn sàng vượt ngục, chạy sang bên Lào lánh nạn một thời gian, rồi lại tiếp tục làm ăn ở một buôn, bản nào đó, hoặc ở bên Lào, hoặc ở bên Việt Nam.



Cách thứ hai là vượt ngục lúc đêm khuya. Cách này xem ra thì có vẻ khó khăn hơn, nhưng lại an toàn hơn. Lý do là vào buổi tối, ỷ y những căn lán được xây dựng một cách kiên cố, bộ đội công an, canh gác tù rất lơ là. Như vậy, nếu trốn khỏi được lán tù, chúng tôi chỉ mất có 15 phút đến nửa tiếng là trốn được vào rừng. Khi đó, trời tối đen như mực, cộng với rừng rậm, sẽ giúp chúng tôi dễ dàng thoát khỏi mọi cuộc truy lùng. Điều quan trọng nhất là làm sao có thể trốn thoát khỏi lán tù, mà mọi người tù trong lán, không hề hay biết, hoặc tất cả đều chấp nhận trốn cùng với mình.



Như tôi đã nói ở trên, do cấu trúc của lán tù rất đặc biệt, nên cửa ngõ duy nhất có thể trốn thoát là chui xuống căn hầm ở dưới sàn lán. Vì ở tầng dưới, nước ngập lầy lội, nên cửa hầm làm rất sơ sài. Nếu chúng tôi có thể trốn được xuống dưới tầng hầm, thì việc phá cửa hầm là điều không có khó. Điều khó là làm sao trong đêm khuya có thể chui xuống dưới hầm, vì tất cả những tấm nhôm lót sàn lán đều chạy dài suốt chiều ngang của lán, và trên đó, mọi người tù đều nằm đè lên trên. Nói như vậy có nghĩa, nếu muốn trốn xuống dưới hầm, chúng tôi phải nâng ít nhất là một tấm nhôm, mà mọi người trong lán đều phải nằm ngang, đè lên trên tấm nhôm đó. Như vậy, tất cả những người tù trong lán phải chấp nhận, ngoảnh mặt làm ngơ cho chúng tôi trốn, hoặc chấp nhận cùng trốn với tụi tôi. Tôi biết, chuyện mọi người nhắm mắt làm ngơ cho chúng tôi trốn, để rồi sau đó họ phải gánh chịu mọi liên luỵ với cái tội đồng lõa là điều không bao giờ xảy ra. Vì vậy, chúng tôi chỉ còn cách thuyết phục những người tù hình sự cùng giam trong lán tù, cùng chấp nhận vượt ngục.



Trong lán tù của chúng tôi lúc đó có tất cả 7 người. Ngoài hai đứa chúng tôi, 5 người còn lại đều là người địa phương. Người trẻ nhất tên H mới có 17 tuổi, phạm tội ăn trộm 20 kí lô thuốc nổ của huyện đội Đông Hà để đánh cá dưới suối. Người lớn tuổi nhất tên HK, 52 tuổi, phạm tội chém chết vợ và một tên công an khi tên này ngoại tình với vợ HK. Còn anh HV, 36 tuổi, em trai của HK thì bị ghép tội hành hung và ngăn chận không cho công an thi hành nhiệm vụ, bắt giữ HK. HV cũng đã dùng mác đâm bị thương một người công an khi công an bao vây bắt giữ HK. Người thứ tư là X, 18 tuổi, gọi HK bằng chú, phạm tội ăn trộm súng của một đơn vị bộ đội đồn trú trong nhà của X, rồi đem súng đi bắn khỉ. Trong tù, X rất thương yêu tôi, và rất khoái nghe tôi kể chuyện kiếm hiệp. Còn một người nữa, lâu ngày tôi không nhớ tên cũng như tội mà người đó bị cáo buộc, nên không nói đến ở đây.



Trong số những người cần phải thuyết phục vượt ngục, người đầu tiên là T. Vì tình yêu tha thiết dành cho BH nên T trước sau một mực, chỉ chấp nhận vượt ngục với tôi nếu có BH đi theo. Trong một buổi đi làm ngoài trời, chỉ có tôi và T, tôi nói:



- Tình thế này, không sớm thì muộn, chúng sẽ đưa mình về lao Thừa Phủ. Về đó rồi thì mình vô phương trốn thoát. Vì vậy, nếu mình có trốn thì phải trốn ở đây. T nghĩ thế nào, dám trốn không?



T trầm tư một lúc rồi nói:



- Cháu nghĩ hoàn cảnh của cậu rất nguy hiểm nên cậu có trốn thì trốn ngay đi, không sau này chúng biết rõ cậu là ai, chúng sẽ xử bắn cậu mất. Còn cháu, cháu phải ở lại với BH. Cháu không thể nào bỏ BH mà trốn đi một mình được.



Nói đến đó, T rơm rớm nước mắt:



- Nếu biết tình cảnh hôm nay như thế này, cháu với BH chả dám đi vượt biên với cậu. Thiệt chỉ vì chúng cháu mà cậu bị vạ lây.



Nghe T nói vậy, tôi cũng rất xúc động. Nhưng hoàn cảnh hiện tại không phải là lúc để cho người này hay người kia nhận lỗi về mình. Bây giờ là lúc phải tìm cách trốn tù bằng mọi giá và trốn càng sớm thì càng bớt nguy hiểm. Tôi nôn nóng nói với T:



- Tình cảnh ngày hôm nay, cậu cũng rất ân hận vì đã không làm tròn được trách nhiệm đối với hai cháu. Cậu thấy có lỗi đối T và BH. Nhưng cho đến bây giờ, tụi nó chỉ đinh ninh mình là những người ngây thơ nghe người ta xúi dại mà đi vượt biên, nên rất thuận lợi cho mình vượt ngục. BH dù sao cũng là con gái, có bị kẹt lại cũng chỉ ở tù vài tháng là được ra. Hơn nữa, má của BH hay tin, sẽ tìm cách xoay sở cho BH ra sớm. Tôi tin chắc BH chỉ ở tù 3 tháng là cùng.



T im lặng một lúc rồi nói, giọng cương quyết:



- Nếu cậu muốn cháu trốn tù cùng với cậu, cậu phải tìm cách cho BH trốn tù cùng với cháu. Còn không, cháu chấp nhận để cậu trói chặt chân tay cháu, rồi để cháu lại trong lán, cho cháu được ở lại cùng chia sẻ hoạn nạn với BH…



Thấy T cương quyết như vậy tôi vừa lo vừa khâm phục. Cũng vì thấy T một lòng một dạ yêu BH như thế, sau này, bàn bạc với mấy anh em trong tù, tôi đã cố gắng thuyết phục, để tất cả đều đồng ý, sau khi trốn khỏi lán tù, chúng tôi sẽ sang lán của BH, tìm cách cứu BH để BH cùng đi.



KỲ 70



Qua trò chuyện với những người tù địa phương, tôi biết được, trong quá khứ, họ hoặc thân nhân của họ, đều ít nhiều có dính dáng tới VC nên tất cả đều hiểu rõ bản chất của VC và không ưa gì VC. Có điều tất cả năm người đều không hề có ý định vượt biên. Để có thể thuyết phục được mọi người cùng vượt biên, tôi phải khéo léo gặp gỡ từng người, trò chuyện thăm dò và thuyết phục họ. Người đầu tiên tôi gặp gỡ là ông HK, 52 tuổi, người già nhất, có phong độ đàn anh nhất. Vì trong lán, ông HK có em trai là HV và X là cháu gọi ông bằng chú, nên tôi nghĩ nếu thuyết phục được ông cùng vượt biên, chắc chắn việc thuyết phục những người còn lại sẽ dễ dàng rất nhiều.



HK có một thân hình khôi vĩ, cao to lạ lùng. Ngồi trong lán, đầu ông đụng trần lán, nên ông thường phải khom lưng. Da ông ngăm ngăm nâu, xâm trổ đầy người. Bộ râu quai nón của ông xồm xoàm, tóc ông xoăn thành từng lọn dầy, xoã xuống hai bờ vai vuông, cổ của ông bự, toàn thân ông gân guốc, bắp thịt cuồn cuộn, trông rất uy vũ. Tôi nghe X cháu của ông nói, mấy chục năm trước, ông đã khét tiếng là người đi săn giỏi nhất và là người khoẻ nhất, từng chạy từ chân núi lên đỉnh núi nhanh nhất vùng Đông Hà.



Hôm đó chúng tôi phải ra ngoài trồng lúa, đến giờ trưa nghỉ ăn cơm nửa tiếng, tôi ăn vội vàng cho xong rồi đến ngồi cạnh ông, tâm sự về cuộc đời của ông. Nghe ông kể xong chuyện ông chém chết vợ và tên công an, tôi hỏi ông:



- Tội của chú vậy chắc nặng lắm?



Ông gật đầu:



- Nặng lắm chớ. Tôi không bị tụi nó tử hình thì cũng bị chung thân. Chém chết hai mạng người không nặng sao được.



- Nhất là trong hai mạng đó có mạng một thằng công an?



Ông lắc đầu:



- Thằng đó “cách mạng 30″ chớ công an gì nó. Nó mê vợ của tôi từ lâu, đến khi tụi VC về, nó chạy theo rồi dở trò mất dậy. Chứ trước kia, bố bảo nó cũng chả dám, chỉ đứng xa nhìn vợ tôi mà nhỏ rãi ra thôi.



Tôi nhẹ nhàng thăm dò:



- Nếu biết tội của chú nặng vậy, sao chú không trốn đi?



Ông ngạc nhiên:



- Trốn đi đâu?



- Thì trốn ra ngoại quốc.



Ông nghi ngờ:



- Ngoại quốc là quốc nào mới được chứ? Mà tại sao tụi ngoại quốc nó lại nhận mình? Nhận mình đâu có được ích gì.



Tôi liền giải thích ngắn gọn cho ông hiểu, nếu mình trốn ra ngoại quốc trong tư cách là người tỵ nạn chính trị thì sẽ được các quốc gia khác tiếp nhận và cho đi định cư ở quốc gia tự do như Mỹ, Canada, Úc… Tôi cũng kể cho ông biết hàng trăm ngàn người Việt đã vượt biên tỵ nạn hiện được định cư tại các quốc gia đệ tam. Nghe rồi, ông đăm chiêu cho biết:



- Chú mày nói vậy thì tôi biết vậy. Nhưng bỗng dưng mình tay trắng, chẳng có một thứ gì, đến quấy rầy họ mà họ nhận thì tôi thấy khó tin quá. Tôi ghét cộng sản thì ghét thật, nhưng bảo ghét như vậy là mình trở thành tỵ nạn chính trị thì nghe không lọt tí nào. Chính trị là mình phải nổi loạn, làm đảo chánh, chiếm đoạt chính quyền…



Tôi nói:



- Tỵ nạn chính trị nó có nhiều loại lắm chú ơi. Có loại nổi loạn, đảo chánh, lật đổ chính quyền, nhưng cũng có loại mình bị chính quyền sở tại trù dập, o ép, kỳ thị khiến mình mất tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, thì mình cũng có quyền xin tỵ nạn chính trị.



- Chú mày nói vậy thì cả cái Miền Nam này ai cũng là tỵ nạn chính trị được sao?



Tôi gật đầu:



- Chú nói đúng. Tụi VC nó xâm lăng Miền Nam, khiến mọi người bây giờ đều bị cộng sản nó đì, người thì phải đi vùng kinh tế mới, người bị bắt vô trại cải tạo, cuộc sống cực khổ, thiếu thốn, không được tự do thờ phụng, làm ăn, học hành, nên ai cũng có quyền xin tỵ nạn chính trị được. Vì vậy chú thấy đó, hễ ai trốn ra được ngoại quốc là đều được ngoại quốc người ta công nhận mình là tỵ nạn ráo trọi. Cái khó là mình có trốn ra được ngoại quốc để xin tỵ nạn hay không.



Ông gật gù:



- Ai trốn ra ngoại quốc thì khó, chứ với tụi này, chuyện đó dễ ợt.



Tôi ngạc nhiên:



- Chú nói sao mà dễ ợt?



- Thì ở đây dân chúng vẫn đi sang Lào buôn bán làm ăn, kể cả buôn đồ lậu như cơm bữa. Chui vào rừng, đi đường tắt chỉ nội một đêm là đến biên giới. Sang bên kia biên giới là Lào. Như vậy không dễ ợt là gì?



Tôi ngây thơ:



- Nhưng bây giờ mình đang ở trong tù, làm sao chui vô rừng mà đi được?



Ông trầm ngâm một lúc rồi nói:



- Nếu xin tỵ nạn chính trị quả thực dễ dàng như chú mày nói, thì để tôi tính với thằng HV xem. Nó là em tôi, tôi bảo gì là nó nghe nấy. Nhưng tôi thì vợ chết, chẳng còn ai thân thuộc, muốn đi đâu cũng được, miễn sống thì thôi. Còn nó có vợ con, chuyện đi đứng chẳng dễ dàng, phải hỏi qua nó một câu. Nếu nó đồng ý, thì thằng X, cháu tôi cũng dễ. Nó chưa vợ con gì, tôi đi đâu là nó đi theo đấy. Còn hai thằng kia, một thằng tôi bảo nó được, vì nó cũng là em út tôi thôi. Tôi chỉ ngại có thằng còn lại là thằng H…



Tôi lo lắng nhưng im lặng không nói. Ông HK nhìn tôi ngần ngừ một thoáng rồi tiếp:



- Thằng H bố nó đi theo tụi VC rồi chết mất xác. Nó thì trước đây làm giao liên cho huyện đội, phạm tội ăn trộm thuốc nổ nên bị bắt. Tính khí nó nhát, nên khi bị bắt, bị tụi VC nó doạ dẫm là nó khai tầm bậy tậm bạ làm luỵ không biết bao nhiêu người. Mình muốn trốn thoát thì phải rủ cả nó đi theo. Sợ tôi, nó sẽ nhận lời đi theo đấy. Nhưng nếu gặp tụi công an, bộ đội hù doạ là nó sợ, nó dám làm đổ bể mọi chuyện lắm.



Tôi thăm dò:



- Ngoài cách rủ nó đi theo, mình còn cách nào khác không, chú?



Ông trầm ngâm một chút rồi thong thả:



- Còn một cách nữa là không nói gì cho nó biết. Đợi đến đêm mình định trốn đi, mình mới rủ nó. Nó chịu thì cho nó đi cùng. Nó không chịu thì trùm mền, bịt miệng rồi trói gô cổ nó lại.



Tôi lo ngại. Vì cách đó xem ra cũng không phải là tuyệt hảo. Ông HK thở dài tiếp:



- Chú mày đừng nghĩ ngợi làm gì, để tôi tính cho. Chuyện đó cứ để từ từ. Trước mắt là để tôi suy nghĩ rồi bàn với thằng HV xem thế nào đã.



Sau khi nói chuyện với ông HK, tôi thấy có nhiều hy vọng cho cuộc vượt ngục của chúng tôi. Nếu ông HK thực sự nhập cuộc, thì với sức khoẻ, tuổi đời, kinh nghiệm đi rừng và khả năng thông thuộc địa hình rừng núi vùng Đông Hà của ông, ông sẽ giúp chúng tôi vượt qua biên giới Lào Việt dễ dàng. Điều khó khăn nhất hiện nay là làm sao thuyết phục được ông tin tưởng, một khi ra ngoại quốc, ông sẽ được công nhận tư cách tỵ nạn chính trị. Khó khăn thứ hai là làm sao rủ rê để H cùng đi theo.



Ba ngày sau, ông HK gặp tôi cho biết, cả ba người đều đồng ý sẽ vượt ngục. Nghe vậy tôi mừng quá. Hỏi H thế nào thì ông bảo, ông chưa hỏi ý kiến vì sợ y sẽ để lộ bí mật. Theo kế hoạch của ông, vào đêm vượt ngục, khoảng 2 giờ sáng, ông sẽ đánh thức H và cho y biết quyết định vượt ngục cũng chưa muộn. Nếu y thuận, thì cho đi theo. Còn nếu y không chấp thuận, chúng tôi sẽ trói y lại, để sau này, y khỏi bị mắc tội liên luỵ, đồng loã với những người vượt ngục.



Sau khi trói H, chúng tôi chỉ cần nhấc một tấm nhôm lên, là có thể chui xuống tầng hầm bên dưới, rồi phá cửa hầm, vượt thoát ra ngoài dễ dàng. Ngay khi thoát ra ngoài, HV và X sẽ chạy về nhà để mang vợ con của HV và lấy lương thực cùng những thứ cần thiết. Rồi tất cả sẽ gặp nhau tại một điểm hẹn trong rừng, chỉ có ông HK và HV biết.



Nghe kế hoạch của ông HK tôi tỏ ra lo ngại việc HV và X chạy về nhà mang vợ con theo. Ông HK tự tin trấn an tôi:



- Chú mày yên tâm. Ra khỏi đây rồi, tụi tôi sẽ không khác gì hổ về rừng. Tụi nó có thiên binh vạn mã cũng không tài nào bắt nổi tụi này. Cứ để cho thằng HV nó về mang vợ con theo. Không cho nó về, nó đâu có chịu đi. Vả lại mình cũng cần mang theo chút ít lương thực, vũ khí để khi đi rừng, nhỡ gặp thú dữ như hổ báo còn có thứ đối phó. Chúng nó đi về nhà chỉ mất có mấy thôi dao thôi mà.



Ông HK cũng giải thích cho tôi hiểu, mỗi thôi dao là một đoạn đường một người cầm dao thấy mỏi, phải chuyển sang tay khác. Khoảng cách như vậy tương đương khoảng 500 thước.



Nghe ông HK nói vậy, tôi cũng yên tâm. Còn trường hợp của T, tôi cũng cho ông biết:



- Chú xem có thể giúp T cứu BH ra khỏi lán tù được không? Vì nếu không cứu được BH để BH đi cùng thì T sẽ không chịu trốn theo mình.



Chuyện này cả tôi và T đã nói với ông HK từ trước, nên ông trả lời ngay:



- Yên trí, thằng X sẽ lo chuyện đó. Chỉ cần bảo BH tối hôm đó nhớ thức chờ người mở cửa, rồi nhẹ nhàng chui ra là xong.



Xem ra kế hoạch vượt ngục đã được hoạch định khá chu đáo và đơn giản. Trông vóc dáng uy vũ của HK cùng thái độ điềm tĩnh, tự tin của ông, tôi rất mừng, đinh ninh mọi chuyện sẽ trôi qua chót lọt. Không ngờ vào một buổi trưa, đang lao động ở ngoài rừng, HK đến gần tôi, vừa lúi húi làm vừa nói nhỏ:



- Chuyện đó bể rồi….



Tôi điếng người. Đưa mắt nhìn lẹ chung quanh, thấy mấy tên bộ đội ở xa không để ý, tôi vội hỏi:



- Đổ bể thế nào, chú?



Sau một lúc im lặng cắm cúi làm việc, ông mới chậm rãi nói:



- Thằng H nó biết hết chuyện rồi.



Tôi ngạc nhiên:



- Ủa, sao nó biết?



- Chiều qua lúc ăn cơm ở ngoài lán, thằng HV và thằng X nói chuyện với nhau làm sao đó, nó nghe lỏm được hết.



Tôi bồn chồn lo lắng:



- Bây giờ mình phải làm sao?



Ông HK gằn giọng:



- Tôi đã cảnh cáo thằng H rồi. Nó mà léng phéng bẩm báo, là tôi cắt cổ.



- Nó nói sao?



- Nói gì. Nó sợ muốn ỉa ra quần, mặt mũi tái xanh, cắt không còn hạt máu.



- Nhưng đó là trước mặt chú. Sau mặt chú, nó đi bẩm báo thì mình đâu biết.



- Tôi đã giao cho thằng HV nhiệm vụ theo dõi sát thằng H. Hễ nó đi đâu là theo sát nó đến đó. Nó cũng ngán thằng HV một cây. Bảo đảm từ giờ đến sáng mai là nó không thoát khỏi sự kiểm soát theo dõi của mình.



Tôi lo ngại:



- Còn ngày mai?



- Ngày mai, nếu tụi công an gọi nó đi làm việc riêng, không có mình đi theo, thì mình đành chịu. Hay nó có ám hiệu riêng với tụi công an, để tụi công an gọi riêng nó ra một chỗ, thì mình cũng bó tay.



Tôi ngập ngừng đề nghị:



- Nếu vậy, tại sao mình không trốn ngay tối nay?



Ông HK lắc đầu:



- Không được. Tối nay sáng trăng, trốn rất nguy hiểm.



Trước khi bỏ đi, ông HK trấn an tôi:



- Chú mày cứ an tâm. Mọi chuyện cứ từ từ để tôi tính. Từ giờ đến tối mình nhớ theo dõi sát thằng H, đừng để cho nó lại gần tụi công an, bộ đội. Tối về lán mình sẽ lo thuyết phục thằng H. Nó không nghe thì mình có cách.



Suốt buổi làm chiều hôm đó, tôi lo ngại coi chừng thằng H, mặc dù tôi biết, cả ông HK lẫn HV lúc nào cũng kèm sát bên thằng H.



Bữa cơm chiều hôm đó, ông HK không cho thằng H đi lấy cơm, lấy nước. Ông bắt nó ngồi im trong lán chờ mọi người bưng cơm nước vô “hầu” nó. Thằng H lo ngại ra mặt, bộ điệu nhấp nhổm không yên, nhưng vì khiếp hãi uy vũ của ông HK, nên thằng H đành phải chịu trận ngồi bó gối trong lán.



Giữa lúc chúng tôi đang bồn chồn lo lắng, chờ bữa cơm tối, bỗng tên thiếu uý Biểu đi lại, the thé quát:



- Thằng H chui đâu rồi?



Chúng tôi giật mình lo ngại, nhưng ai cũng giả vờ ú ớ quay ngang quay ngửa tìm kiếm. Ai cũng mong tên thiếu uỷ Biểu bỏ đi chỗ khác. Nhưng không. Sau khi quét cặp mắt cú vọ nhìn tất cả mọi người ngồi bên ngoài lán chờ cơm, không thấy H đâu, tên thiếu uý Biển bước đến cửa lán cúi đầu ngó vào trong quát to:



- Ê H, mày ra đây tao biểu.



Chúng tôi lạnh người nhìn nhau lo ngại. Nếu thằng thiếu uý Biển lôi H đi khỏi đây, chắc chắn H sẽ bẩm báo chuyện chúng tôi đang dự tính vượt ngục. Như vậy tai hoạ sẽ đổ ập xuống đầu chúng tôi và hậu quả sẽ nguy hiểm không biết đâu mà lường.



Ngó H lồm cồm chui ra khỏi hầm, chúng tôi sợ điên người, không biết cách nào để ngăn chặn không cho H đi theo tên thiếu uý Biển. Nhưng cuộc đời nhiều khi có những may rủi bất ngờ, vượt xa mọi sự tính toán của con người. Khi H vừa chui ra khỏi cửa lán, tên thiếu uý Biển không nói không rằng, nhanh chóng lùi lại một bước, khẽ xoay nửa người, rồi vung ngược cánh tay phải, làm một quả đấm móc chớp nhoáng vào cằm thằng H. Tôi chỉ nghe một tiếng “rắc” vang lên khô khốc kèm theo tiếng rú của H, và thấy H bật ngửa người đè vào một bên cửa lán. Ngay khi cú đấm thôi sơn vừa trúng cằm H, tên Biển đã bước lên một bước, chân trái đứng tấn, chân phải tung ra cú đá vào ngay bụng H. Tôi chỉ kịp nghe H kêu lên một tiếng “ối”, đã thấy H gập người làm đôi, rồi cả người H bị bắn tung vào trong lán như một trái banh bị một cầu thủ thiện nghệ đá lọt vô gôn.



Cúi người vô cửa lán, tên Biển cầm chiếc đèn bấm chiếu vào H đang nằm quằn quại trong lán, miệng hét:



- Sáng mai mày sẽ biết tay tụi tao, H ạ.



Nói xong, tên Biển lạnh lùng bỏ đi. Chúng tôi nhìn nhau, không biết đầu đuôi câu chuyện ra sao. Ông HK nhìn HV gật đầu. HV vội vàng chui vô lán chăm sóc và thăm dò H.



KỲ 71



Bữa cơm tối hôm đó, chúng tôi đều im lặng ngồi ăn, không ai nói với ai một lời. Ông HK nhìn tôi rồi gật gù như gói ghém một ý nghĩa gì đó. Lúc đó tôi không biết ông gật gù như vậy là có ngụ ý gì, nhưng nhìn vẻ mặt hớn hở của ông, tôi đoán, ông coi chuyện tên thiếu uý Biển đánh H là một điều may mắn cho chuyến vượt ngục của chúng tôi. Lúc đó, tôi cũng có ý nghĩ như ông. Nhưng sự thực đã diễn ra hoàn toàn trái ngược…



Như thường lệ mọi khi, ăn cơm xong, chúng tôi được ở lại nửa tiếng bên ngoài để rửa ráy chén đũa và vệ sinh cá nhân, trước khi bị nhốt vô trong lán. Trong lúc rửa ráy chén đũa, ông HK kín đáo quan sát chung quanh rồi nói nhỏ với tôi:



- Thằng H ăng ten, chuyên chỉ điểm cho tụi nó. Nay nó bị thằng Biển đánh cũng đáng kiếp chó săn.



Tôi băn khoăn hỏi:



- Nhưng tại sao H bị nó đánh mới được chứ?



Ông HK trầm ngâm một chút, rồi thở dài:



- Thì chắc là chỉ điểm sai trật thế nào đó, nên bị tụi nó đập thôi. Mà chuyện đó đâu có quan trọng. Để ý đến nó làm gì.



Cẩn thận liếc nhìn chung quanh, ông HK tiếp:



- Dù sao đi nữa, nó bị đập thì càng dễ cho tụi mình lôi kéo nó vượt ngục theo…



Ngay lúc đó HV từ trong lán chui ra. Nhìn ông HK, HV lắc đầu không nói. Tôi hiểu, HV đã vô trong lán tìm cách khai thác nhưng không khai thác được H điều gì.



Tối hôm đó, mấy đứa chúng tôi tận tình lo chăm sóc, bóp dầu, đấm bóp cho H. Đến khi đi ngủ, ông HK đổi chỗ, nằm cạnh H thì thầm suốt đêm. Tôi nằm cách xa H, trằn trọc không ngủ. Tuy không nghe rõ ông HK nói gì, nhưng tôi biết, ông đang thuyết phục H đồng ý vượt ngục cùng. Trong lòng, tôi cầu mong ông thành công, nhưng không hiểu sao linh tính khiến tôi bồn chồn lo lắng, cho đến gần sáng tôi mới chìm vào giấc ngủ chập chờn đầy ác mộng.



Ngay khi nghe tiếng kẻng báo thức, tôi giật mình thức giấc. Đầu nhức như búa bổ, miệng đắng nghét, nhưng tôi vội quay nhìn ông HK. Tôi muốn qua nét mặt của ông, đoán biết phần nào kết quả của buổi nói chuyện tối hôm qua. Ông nhìn tôi gật đầu, miệng mỉm cười. Tôi mừng quá, nhưng trong lòng vẫn lo vì tôi nhớ tới lời hét tàn nhẫn của tên Biển, “Sáng mai mày sẽ biết tay tụi tao, H ạ”. Nếu sáng hôm nay tên Biển lôi H đi “làm việc” để cho H “biết tay tụi nó” thì khi một mình H phải đối diện với bầy sói, chắc chắn H khó có thể giữ kín được âm mưu vượt ngục của tụi tôi. Trận đòn thù khủng khiếp đối với H có thể khiến cho H thêm căm ghét CS, nhưng biết đâu nó cũng có thể khiến H thêm sợ hãi, sẵn sàng cung khai cho CS biết những gì H biết để “chuộc tội” điểm chỉ lầm.



Nhìn sang H thăm dò, tôi chỉ thấy H cúi đầu, vẻ ngượng ngùng xa cách. Thái độ của H khiến tôi càng thêm lo ngại. Kinh nghiệm cho tôi thấy, một người khi đang có những toan tính hại những người đồng cảnh ngộ, người đó thường né tránh những người chung quanh, nhất là mắt của người đó thường không dám nhìn thẳng. Nhưng trong hoàn cảnh lúc đó, tôi đâu có thể làm gì H ngoài lòng mong mỏi, tôi đã nghĩ sai, đoán sai về H.



Ngồi bó gối trong lán chờ mở cửa đi lao động, lòng tôi bồn chồn lạ lùng. Liếc nhìn H, tôi thấy H vẫn ngồi im, đầu cúi gằm. Tất cả mọi người, kể cả ông HK cũng im lặng. Không khí trong lán thật ngột ngạt nặng nề.



Khoảng 10 phút sau, tên công an đến mở cửa lán. Mọi người lần lượt chui ra khỏi lán, lặng lẽ xếp hàng, chuẩn bị đi lao động. Chúng tôi vừa đứng thành hàng xong, chờ mấy tên công an, bộ đội đến dắt đi lao động, thì tên Biển từ trên thềm đá đi thẳng đến trước mặt H, gằn giọng nói ngắn gọn:



- Đi theo tao.



Nói xong, tên Biển quay lưng đi thẳng về khu doanh trại.



Tên H quay qua ngó trộm chúng tôi rồi lặng lẽ đi theo tên Biển. Chúng tôi không ai bảo ai đều lạnh gáy vì lo sợ. Rõ ràng, thái độ của tên H khi đi theo tên Biển báo hiệu điềm lành ít dữ nhiều cho chúng tôi.



Sáng hôm đó, khi đến đồng lúa cạn làm việc, chúng tôi đều bồn chồn lo lắng. Mọi người nhìn nhau lo ngại không sớm thì muộn phong ba bão táp sẽ tới với chúng tôi. Quả nhiên, làm việc đến gần trưa, bỗng dưng chúng tôi thấy hai toán bộ đội từ trên doanh trại đi thẳng tới chỗ chúng tôi làm. Một toán bọc cách trái, một toán bọc cánh phải. Trong chớp mắt, hơn chục tên bộ đội đã bao vây chúng tôi vô giữa. Tất cả các tên bộ đội đều trang bị súng AK-47 ở tư thế sẵn sàng nhả đạn. Khi toán bộ đội đã bao quanh chúng tôi trong đội hình bao vây, sẵn sàng trong tư thế “xử lý” chúng tôi tại chỗ, tên Biển mới xuất hiện. Chúng tôi đứng lặng yên trong tâm trạng sợ hãi. Lúc đó chúng tôi biết chắc, tên H đã khai hết mọi chuyện, nhưng trong thâm tâm, tôi vẫn còn le lói hy vọng, mọi chuyện không phải như vậy.



Nhìn những gương mặt ngơ ngác của chúng tôi, tên Biển gật gù khoái trá. Đi đi lại lại trên bờ ruộng, y hắng giọng hai ba lần đầy vẻ thích thú trong tâm trạng của một con mèo đang vờn chuột. Cuối cùng, y gọi tên tất cả những người trong lán của chúng tôi và ra lệnh ngưng làm, lên bờ. Đến lúc này thì chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa về sự phản bội của tên H. Tôi thở dài chán nản bước lên bờ ruộng rồi ngồi phịch xuống cỏ.



Ngay sau đó, toán bộ đội còng tay tất cả chúng tôi và áp tải về lán mà không hề nói một lần. Vô lán, chúng tôi vẫn bị còng tay, và ngoài cửa lán bỗng dưng có hai tên bộ đội đeo súng AK-47 đứng gác với chó bẹc giê. Nhìn cảnh đó tôi càng ngao ngán thất vọng.



Trưa hôm đó, chúng tôi bị bỏ đói. Mãi đến chiều tối, chúng tôi mới được tháo còng và cho ăn mỗi người một miếng bánh mì luộc, một chén canh rau muống, mặn chát, chỉ thấy nước mà không thấy rau. Giữa lúc đang đói khát và chán nản, bỗng dưng trông thấy tên Biển đi ngang qua, tôi vội vã la lớn:



- Báo cáo cán bộ?



Tên Biển nhìn vô nạt:



- Chuyện gì?



Tôi làm bộ thiểu não:



- Từ sáng đến giờ chúng tôi chỉ mới được ăn có một bữa…



Tôi chưa nói hết câu, tên Biển cấm chiếc dùi cui đập đánh sầm vào cửa lán rồi chửi:



- Đ.M. bây, câm ngay cái họng thối tha tụi bây lại. Cho tụi bây ăn no để tụi bây trốn trại sao?



Tôi giật bắn người, kịp giật hai bàn tay lại phía sau. Thiệt hú vía, vì chỉ một ly nữa, là chiếc dùi cui của tên Biển đã đập nát mấy ngón tay của tôi.



Sau khi chúng tôi ăn xông, tên Biển lại ra lệnh còng tay tôi và T. Còn những người khác thì không bị còng. Tối hôm đó, tôi và T phải nằm ngủ trong tư thế tay bị còng, đau đớn thê thảm. Trong hoàn cảnh bi đát đó, ông HK vẫn thản nhiên không một vẻ bi quan chán nản. Đến nửa đêm ông lồm cồm bò lại gần tôi và bảo:



- Chú mày liệu mà lo lấy thân. Một vài hôm nữa, thế nào tụi nó cũng giải băng đảng chú mày về lao Thừa Phủ đó.



Tôi giật mình hỏi:



- Lao Thừa Phủ?



Ông HK hỏi nhỏ:



- Chú mày biết lao Thừa Phủ không? Ở Huế đó. Do tụi Nhật xây từ thời đệ nhị thế chiến lận. Kiên cố lắm. Ai vô đó rồi là mọt gông, cũng không tài nào trốn được.



Tôi hoảng sợ, nhưng vẫn cố vớt vát:



- Sao chú biết là tụi nó sẽ giải chúng tôi về lao Thừa Phủ trong vài ngày nữa?



- Thì tôi ở đây cả mấy năm rồi, tôi đâu có lạ gì. Tù vượt biên, chúng nó chỉ cho tạm giam ở đây vài tháng rồi giải về lao Thừa Phủ để cho tỉnh đội nó giải quyết.



Tôi thắc mắc:



- Sao chúng không giải chú về lao Thừa Phủ?



- Tụi tôi khác. Tụi tôi là người địa phương, có bị giam ở đây lâu, chúng mới kiếm chác được. Vả lại, chúng muốn tống tụi tôi đi thì cũng phải vuốt mặt nể mũi, ớn ớn họ hàng tụi tôi ở đây khắp chung quanh đây nữa chớ.



Suy nghĩ một lát, tôi lại hỏi:



- Chú bảo tụi nó giam người vượt biên vài ba tháng. Sao tụi tôi mới bị giam có vài tuần, chúng đã cho chuyển về lao Thừa Phủ?…



Ông HK hắng giọng rồi nói:



- Bình thường thì tụi nó giảm từ ba đến sáu tháng. Nhưng nay thấy chú mày rủ rê người khác trốn trại, nên chúng nó sợ giam chú mày ở đây lâu dễ có biến, nên giải giao về lao Thừa Phủ cho yên tâm.



Tôi thở dài ảo não. Thấy tôi như vậy, ông HK cười nhẹ:



- Chú mày trông mặt non choẹt, bấm ra sữa, thì cái tội vượt biên nhẹ hều. Về lao Thừa Phủ chỉ vài tháng là tụi nó thả chú mày về liền à. Có gì đâu mà phải thở dài.



Tôi lặng im không nói, vì biết ông nói không sai. Chỉ có điều ông không biết rõ hoàn cảnh bi đát của tôi lúc đó, nếu về đến lao Thừa Phủ, không sớm thì muộn, VC sẽ biết rõ tôi là ai, và khi đó, tôi sẽ bị tù mọt gông, thậm chí có thể bị tử hình. Nghĩ đến đó, nước mắt tôi giàn giụa. Tôi khóc âm thầm trong đêm tối… Cho đến khi mệt quá, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay.



Tiếng đập thình thình vào cửa khiến tôi giật mình thức giấc. Nhìn ra ngoài, trời vẫn còn tối đen như mực. Trong ánh đèn bấm loang loáng, tiếng tên công an hét lên the thé ngay trước cửa:



- Nguyễn Hữu Chí?



Tôi lồm cồm ngồi dậy, chưa kịp nói, thì ánh đèn bấm chiếu thẳng vào mặt. Tên công an lại hét lên:



- Nguyễn Hữu Chí?



Tôi vội vàng trả lời, giọng run lên:



- Báo cáo cán bộ, có tôi.



Tên công an hét tiếp:



- Nguyễn V.T.



T lúng túng lên tiếng:



- Báo cáo cán bộ, có tôi.



Tên công an quét ánh đèn bấm về phía T. Y hắng giọng hét tiếp:



- Hai anh có 30 phút chuẩn bị để chuyển trại.



Nói xong, tên công an quay sang lán của cháu gái tôi là H, báo cho H biết lệnh chuyển trại trong vòng 30 phút.



Nghe tên công an hét xong, tôi vô cùng bàng hoàng. Thiệt không ngờ ban chỉ huy trại lại quyết định bắt chúng tôi phải chuyển trại cấp kỳ đến như vậy. Vì lúc đó, tôi và T tay bị còng, nên không có cách nào chuẩn bị được đồ đoàn của mình. Ông HK vội bảo mấy người thu xếp đồ đạc rồi nhét vô ba lô cho chúng tôi.



Qua trò chuyện với ông HK, tôi biết, đường đi từ Đông Hà về đến lao Thừa Phủ chỉ nội trong ngày. Lúc đó tôi cũng biết chắc, một khi về đến lao Thừa Phủ, tôi sẽ vô phương trốn thoát, nên tôi đã quyết tâm, ngày hôm nay, trên đường từ Đông Hà về đến lao Thừa Phủ tôi sẽ phải trốn thoát bằng mọi giá. Ngày hôm nay, tôi phải chọn trong hai con đường. Một là tôi trốn thoát. Bằng không, tôi thà bị bắn chết trên đường tháo chạy. Bằng mọi giá, tôi sẽ nhất quyết không để cho mình bước chân vào lao Thừa Phủ. Ngày hôm nay sẽ là ngày định mệnh của tôi. Tôi thầm cầu nguyện Chúa, Phật và tất cả những đấng linh thiêng trên con đời này….



Cũng vì quyết tâm vượt thoát như vậy, nên khi X buộc giây giầy cho tôi, tôi đòi X buộc lại giây giầy cho tôi ba lần, lần sau chặt hơn lần trước. X cũng ngạc nhiên khi thấy tôi đòi như vậy, nên khi tôi đòi hỏi buộc lại lần thứ ba, X ngần ngừ không chịu. Ông HK nghe lời năn nỉ van nài của tôi, chắc hiểu được ý tưởng liều lĩnh của tôi, nên ông đẩy X sang bên, rồi chính tay ông buộc giây giầy cho tôi. Buộc xong, ông ghé tai tôi nói nhỏ, “Chúc chú mày may mắn”.



Không đầy 3 phút sau, ánh đèn bấm loang loáng từ phía doanh trại đi xuống. Nhìn ra ngoài trời tối đen, tôi thấy có gần chục chiếc đèn bấm rọi chiếu loạn xạ. Khi đến gần, tôi thấy có tên Biển đi đầu, rồi bốn tên công an áo vàng đeo súng ngắn, và bốn tên bộ đội đeo súng AK-47. Bốn tên công an thì nét mặt lạnh lùng, súng để nguyên trong bao. Còn bốn tên bộ đội đeo súng AK-47 thì đều để súng trong tư thế sẵn sàng nổ súng…



KỲ 72



Cửa lán tù vừa mở, tên Biền ra lệnh cho tôi và T chui ra. Ngay khi bò được ra ngoài, chúng tôi thấy mấy tên bộ đội cầm súng AK hườm sẵn, nét mặt lạnh lùng vô hồn. Không đầy mấy phút sau, H từ lán bên cạnh cũng cùng chung số phận được giải tới đứng cạnh chúng tôi. Tên Biền cầm đèn bấm lia ngang lia dọc vô mặt chúng tôi rồi nói giọng xấc láo, hăm dọa:



- Tụi bây đã phạm tội vượt biên phản bội tổ quốc là tội đáng bắn bỏ ngay tại chỗ, khỏi cần xét xử. Đến khi bị bắt, đảng đã khoan hồn, tha tội chết, nhưng tụi bây vẫn không thành tâm hối cải, tiếp tục có âm mưu trốn trại là lại một lần nữa thêm tội chết. Đã vậy tụi bây lại còn kéo bè kết đảng rủ rê những người khác cùng trốn trại là ba tội đáng chết. Vì thế, ban chỉ huy trại quyết định đưa tụi bây đi trại khác, để ở đó sẽ có biện pháp giáo dục tụi bây thích đáng.



Tên Biền có thói quen khi tức giận chuyện gì y chuyên xưng hô mày tao, gọi chúng tôi là “tụi bây”. Thú thực, trong cuộc đời tù đầy của tôi dưới chế độ cộng sản, tôi đã nhiều lần bị đối xử tàn nhẫn, nhưng chưa có lần nào gặp phải lối xưng hô “mày tao, tụi bây” một cách trắng trợn và vô học như tên Biền.



Sau khi lên lớp một hồi về tội trạng của tụi tôi, tên Biền quay sang tên bộ đội đứng cạnh, gật đầu. Tên bộ đội hiểu ý bước tới, lên đạn, chĩa nòng súng về phía chúng tôi và ra lệnh chúng tôi đứng nghiêm. Một tên công an bước lại, tháo còng, để chúng tôi người nào đeo ba lô của người đó. Sau đó, tên công an tiếp tục còng hai tay chúng tôi về phía trước. Riêng H. có lẽ là con gái, nên chúng không còng tay. Cuối cùng, để cho chắc ăn, tên công an lấy ra một sợi dây dù dài, trói tay tôi một đoạn, trói tay T một đoạn, trói tay H một đoạn, rồi đoạn cuối cùng y quấn chặt vào tay của y. Vậy là cả ba chúng tôi đều bị trói chung vô một sợi dây mà một đầu của sợi dây do tên công an nắm giữ. Với lối trói như thế, dù có liều mạng cách mấy, tôi cũng chẳng dám và chẳng thể nào chạy trốn.



Tên công an này là người Nùng, không rõ là họ Nùng hay họ Nông, nhưng chắc chắn tên của y là Trí Vân. Vân có một chiếc răng vàng ở hàm trên, hình như đó là phong tục tập quán của người Nùng ở miền thượng du Bắc Việt. Người Vân lùn, thân hình rắn chắc, da ngăm đen, khi cởi trần trông như khối đồng hun. Vân cuồng tín tin tưởng vào chủ nghĩa cộng sản, nhưng vì ít học, nên thích nghe chuyện đông tây kim cổ, và dễ nghe lời phỉnh nịnh. Trong số những công an, bộ đội giam giữ chúng tôi ở Đông Hà lúc đó, tôi chỉ cầu mong Vân là người giải giao chuyển trại cho chúng tôi. Vì với Vân, tôi hy vọng sẽ dễ dàng qua mặt để biến mình trở thành một tên “tù vượt biên ngu ngơ, dại khờ nhưng thuộc loại con ông cháu cha”… Thiệt may mắn cho tôi, hy vọng của tôi đã thành sự thật…



Bình minh hôm đó, trong khí lạnh của núi rừng, tên Biền cùng với bốn tên bộ đội và bốn tên công an áp giải chúng tôi tới bến xe Đông Hà. Có lẽ ban giám đốc bến xe đã nhận được lệnh từ trước, nên chiếc xe đò duy nhất tuy đã đầy khách, vẫn đậu ở bến xe chờ chúng tôi. Hai tên công an, trong đó có Vân, giải chúng tôi lên xe. Còn lại tên Biền, hai tên công an và bốn tên bộ đội thì quay về ngay khi xe chuyển bánh. Tôi thở phào nhẹ nhõm phần nào vì lúc trước, tôi cứ đinh ninh, nếu cả bọn bốn tên bộ đội cùng bốn tên công an cùng giải giao chúng tôi về Huế, thì tôi chẳng có cơ hội nào trốn chạy.



Cả ba chúng tôi được ngồi vô một băng ghế, ngay phía sau tài xế. Một tên công an, ngồi trên chiếc ghế duy nhất ngay bên phải tài xế. Tên Vân ngồi ở ghế bên cạnh, ngang với ghế chúng tôi. Sợi dây dù trói chung chúng tôi được tên Vân buộc cẩn thận vô thành ghế. Trong tình thế bị còng lại bị trói chung cả ba vô một sợi dây đã buộc vô thành ghế trong xe như vậy, tôi biết, tôi không tài nào có thể trốn được.



Ngay khi bước lên xe, nhìn lướt qua những hành khách trên xe, tôi nhận ra đa số họ là người miền núi. Chỉ có vài người Kinh ngồi ở phía trước. Thấy ba người chúng tôi bước lên xe, tay bị còng, lưng đeo ba lô, lại bị trói chùm với nhau, mọi người, kể cả viên tài xế, đều không lộ vẻ gì ngạc nhiên. Mọi người vẫn trò chuyện tự nhiên. Vài người, quay nhìn chúng tôi một thoáng rồi tỉnh bơ quay ra ngoài cửa sổ. Điều này chứng tỏ, công an Đông Hà đã thường xuyên trói tù từng chùm rồi giải giao tù bằng xe đò. Thú thực, thoạt đầu, khi được lệnh chuyển trại, tôi cứ đinh ninh, bị giải giao bằng xe riêng của đồn công an Đông Hà. Nhưng khi thấy mình được giải giao bằng xe đò, lòng tôi có thêm hy vọng. Tuy không tin tưởng những người dân trong chuyến xe đò từ Đông Hà sẽ sẵn sàng giúp đỡ tôi như chuyến xe từ Dầu Tiếng về Bình Dương, nhưng tôi thành thực hy vọng, thế nào cũng có người giúp đỡ tôi không cách này cũng cách khác.



Sáng hôm đó, tên Biền chỉ tuyên bố chung chung sẽ chuyển chúng tôi đến một trại giam khác, nhưng qua những lời thì thầm của ông HK trong đêm, tôi biết chắc chắn, chúng sẽ chuyển chúng tôi về lao Thừa Phủ, Huế. Qua chuyện trò với ông HK tôi biết, lao Thừa Phủ xây cất rất kiên cố, nếu tôi đã bị giam giữ ở đó, tôi sẽ vô phương vượt ngục. Nguy hiểm thứ hai, một khi đã về đến lao Thừa Phủ, chắc chắn lý lịch của tôi sẽ bị phanh phui, và khi đó tôi sẽ phải chịu nhiều hình phạt khủng khiếp, cuộc đời của tôi sẽ vĩnh viễn bị khâm liệm, không bị xử bắn, thì cũng bị tù mọt gông. Vì vậy, tôi đã âm thầm nuôi quyết tâm, trên đoạn đường từ Đông Hà về đến lao Thừa Phủ, bằng bất cứ giá nào, tôi cũng phải chạy trốn. Vẫn biết, chạy trốn trên đoạn đường này, trong khi hai tên công ai giải giao đều đeo súng ngắn, sẽ vô cùng nguy hiểm, nhưng dù vậy, tôi vẫn còn có cơ hội thoát cũi sổ lồng nhiều hơn so với khi bị nhốt vô lao Thừa Phủ.



Trên đoạn đường bị giải giao từ trại tù Đông Hà ra bến xe, tôi miên man nghĩ ngợi cách tẩu thoát. Trước mắt, tôi nghĩ, nếu chúng tôi bị trói chùm lại với nhau bằng một sợi dây, tôi không thể nào chạy trốn một mình được. Vì vậy, điều đầu tiên, tôi phải tìm cách thuyết phục tên Vân công an tháo sợi dây dù trói chung chúng tôi. Có như vậy, tôi mới có thể chạy trốn khi gặp cơ hội. Tôi cũng hy vọng, cho dù tôi không thuyết phục được Vân tháo sợi dây dù, thì trên đoạn đường từ Đông Hà về lao Thừa Phủ, chắc chắn thế nào cũng có lúc, chúng phải cởi sợi dây dù trói chúng tôi để chúng tôi giải quyết chuyện vệ sinh cá nhân. Khi đó sẽ là cơ hội cuối cùng để tôi có thể chạy trốn.



Để có thể thuyết phục được Vân chấp nhận cởi sợi dây dù, tôi phải tìm cách làm cho Vân lơ là cảnh giác, coi thường chúng tôi. Trong thời gian bị giam giữ ở Đông Hà, chúng tôi cũng đã thành công chứng tỏ cho bộ đội, công an ở đó thấy chúng tôi chỉ là những đứa trẻ ngu ngơ, nghe người khác xúi dục mà đi vượt biên. Nhất là T và H, tuổi còn quá trẻ, sinh ra và lớn lên ở thành phố, chưa một ngày quen với phong ba bão táp cuộc đời, nên khi đi lao động trong rừng, cả hai đều có tất cả những đường nét ngây thơ, non nớt của tuổi trẻ thành phố. Và đó là những thuận lợi mà tôi thấy cần phải tiếp tục khai thác trong chuyến đi này để hai tên công an mất cảnh giác, coi thường chúng tôi.



Sau khi thì thầm bàn bạc với T và H, tôi quay sang Vân xin y cho chúng tôi trích một ít tiền “tang vật” mà chúng đã tịch thu, để chúng tôi có thể mua bán dọc đường. Tên Vân bàn bạc với tên công an kia một lúc, rồi chúng gật đầu chấp thuận. Thế là trên đường đi, mỗi khi có dịp, tôi đều gọi mua đồ ăn, thức uống, thuốc lá thật hậu hĩ cho hai tên công an. Cả hai tên đều vui vẻ ăn uống, chấp nhận quà cáp do chúng tôi mua cho. Không khí căng thẳng lúc ban đầu giữa hai tên công an và chúng tôi dần dần giảm bớt cùng với thời gian và đoạn đường chúng tôi đi từ Đông Hà về thị xã Quảng Trị.



Vì quyết tâm bằng mọi giá, tôi sẽ chạy trốn trên đường từ Đông Hà về lao Thừa Phủ, nên tôi rất lo ngại hai tên công an có súng ngắn sẽ bắn tôi. Tôi không biết khả năng bắn súng của tên công an kia như thế nào, nhưng tên Vân thì tôi vẫn nghe ông HK và các bạn tù ở Đông Hà ca ngợi tên Vân là tên công an bắn súng giỏi nhất ở Đông Hà. Có lẽ là người Nùng, thường xuyên săn bắn thú rừng trước khi vô công an, nên tên Vân bắn súng dài cũng như súng ngắn, súng nào cũng rất thiện nghệ. Tôi nghe ông HK nói, chính tên Vân đã có lần bắn hai phát súng hạ hai con sóc cùng một lúc. Ông HK giải thích cho tôi hiểu, con sóc là con vật bé bỏng, lại chạy nhanh khủng khiếp. Bắn trúng một con đã khó, huống hồ bắn hạ cả hai con cùng một lúc. Lý do là khi bắn trúng con thứ nhất, con thứ hai sẽ chạy mất tăm hơi ngay, lấy đâu mà nhắm bắn.



Với tài bắn súng thiện nghệ như vậy, tên Vân sẽ bắn chết tôi dễ dàng, nếu tôi chạy trốn. Dù cho tôi có bị bắn bị thương đi nữa, thì tôi cũng sẽ bị chúng bắt lại và sẽ phải chịu nhiều cực hình tra tấn. Vì thế, tôi nghĩ, cách duy nhất để tôi có thể trốn thoát, là tôi phải làm cách nào để cho tên Vân không bắn tôi, hoặc nếu có bắn, y sẽ có những tích tắc ngập ngừng, không muốn bắn trúng tôi. Để làm được điều đó, tôi thấy phải làm cả hai cách. Một là tôi phải tạo tình thân với y qua quà cáp và trò chuyện. Điều này tôi đã và đang làm. Hai là tôi phải tìm cách đánh đòn tâm lý qua những câu chuyện, để qua đó, tôi cho y có ý tưởng tôi thuộc loại “con ông cháu cha” có “gốc bự” đang làm cho VC. Mà đối với một tên công an người Nùng ở Đông Hà, “gốc bự” phải là một nhân vật có thật, nhân vật đó không thể ở đâu xa, mà phải ở ngay tỉnh Quảng Trị.



Nhờ trò chuyện với ông HK, tôi biết được tên của trưởng ty công an Quảng Trị lúc đó họ Nguyễn, tên là gì thì lâu ngày quá tôi không còn nhớ, nên tôi tạm gọi là X. Đợi dịp thuận tiện, tôi hỏi Vân:



- Thưa cán bộ tôi muốn hỏi cán bộ một câu?



Tên Vân gật đầu không nói.



- Thưa cán bộ có biết ông X?



Tên Vân vừa nhồm nhoàm nhai bánh vừa hỏi lại:



- X nào?



- Thưa ông Nguyễn Hữu X, trưởng ty công an nhân dân tỉnh Quảng Trị…



Vân ngừng nhai, trợn mắt nhìn tôi, ngạc nhiên hỏi:



- Nguyễn Hữu X trưởng ty công an nhân dân tỉnh Quảng Trị? Sao tôi không biết. Thủ trưởng của tôi mà. Mà làm sao anh biết ổng?



Không trả lời thẳng câu hỏi của Vân, tôi tỏ vẻ ái ngại, lo sợ, rồi rụt rè nói nhỏ với tên Vân:



- Nói thật với cán bộ, tụi tôi dại dột nghe người ta xúi dại đi vượt biên. Bây giờ bị bắt, bố tôi tôi không sợ, tôi chỉ sợ chú X thôi.



Vân kéo vạt áo lên chùi mép, rồi hỏi tôi giọng có vẻ tò mò:



- Anh là ai mà dám gọi ông X là chú?



Thú thực, tôi không biết gì về X. Qua chuyện trò với ông HK, tôi chỉ biết X là trưởng ty công an, có một vợ, hai con. Có vậy thôi. Chính ông HK cũng không biết gì hơn về X. Nay tôi đánh liều đi nước cờ này, để Vân tưởng tôi và ông X có quan hệ ruột thịt. Nhưng nếu không cẩn thận, Vân biết rõ về X hơn tôi, hỏi tới mấy câu, thì tôi đâu biết trả lời làm sao. Như vậy, mọi chuyện đổ bể, tôi càng kẹt, và mối quan hệ giữa tôi và Vân được bồi đắp trên đường đi sẽ bị sụp đổ. Nghĩ vậy, tôi không chính thức nhận X là chú, và cũng không trả lời thẳng câu hỏi của Vân, mà chỉ nói nước đôi:



- Chú X đã nhiều lần bảo tôi, bây giờ đã giải phóng, đất nước đã thống nhất thì phải lo mang công sức ra để cống hiến cho cách mạng chứ đừng có dại dột vượt biên đi theo đế quốc nữa…



Tên Vân gật đầu đồng ý:



- Đúng như vậy. Tuổi của anh còn trẻ, tại sao anh không ở lại phục vụ cách mạng có phải anh có tương lai tươi sáng không nào.



Nói đến đó, Vân nhìn tôi bán tín bán nghi:



- Nhất là khi anh lại có chú làm lớn trong ngành công an…



Tôi giả bộ ăn năn hối hận:



- Tôi nói, biết cán bộ không tin, nhưng không nói thì lòng áy náy vô cùng. Thú thực với cán bộ, ngay hôm tôi bị bắt ở Đông Hà, tôi cứ tưởng mình bất hạnh. Nhưng trong suốt mấy tuần qua, nằm vắt tay lên trán, nghĩ đi nghĩ lại, tôi mới thấy mình bị bắt như vậy đâm ra lại may mắn, vì có bị bắt, tôi mới có cơ hội nhận ra mình vượt biên là sai lầm. Vì vậy, tôi chỉ mong sao cán bộ đừng cho chú X của tôi biết là tôi vượt biên bị bắt, kẻo chú biết, chú rầy la thì tôi sợ lắm…



Công an Vân nhìn tôi có vẻ thương hại, nói:



- Anh yên tâm đi. Danh sách những người vượt biên giải giao đi lao Thừa Phủ sẽ trình lên bộ nội vụ, nên công an tỉnh không hề hay biết gì chuyện này.



Nhìn vẻ mặt, thái độ và nghe câu nói của Vân, tôi rất mừng. Ít ra, Vân cũng tin tưởng phần nào, tôi là cháu của X. Như vậy, khi tôi chạy trốn, nếu Vân có định bắn tôi, y cũng phải ngần ngừ một hai tích tắc. Và biết đâu, một hai tích tắc đó, sẽ cứu tôi thoát nạn? Cho đến nay, tôi không biết sự thực, Vân đã suy nghĩ gì khi nổ mấy phát súng lúc tôi chạy trốn trên đường phố Huế cách lao Thừa Phủ có vài trăm thước, nhưng quả thực, không một viên đạn nào trúng tôi. Nhờ vậy, tôi đã trốn thoát, rồi được người khác giúp đỡ, gọi xe ôm ra Huế, và đáp tàu chợ trở lại Biên Hoà ngay tối hôm đó….



KỲ 73



Trên chuyến xe đi từ Đông Hà về Huế, một mặt chúng tôi đóng vai ngây ngô, khờ dại để cho hai tên công an mất cảnh giác, coi thường, mặt khác, tôi tìm cách “cấy” vào đầu óc tên công an Nùng Trí Vân một mối liên hệ mơ hồ giữa tôi và tên trưởng ty



công an Quảng Trị. Cả hai điều này đều ít nhiều thành công. Nhưng điều quan trọng khiến tôi điên đầu nhất là làm sao tôi có thể chạy trốn khi cả ba chúng tôi đều bị còng tay và bị buộc chung một sợi dây dù? Vì vậy, để khi chạy trốn, đỡ nguy hiểm nhất, trước hết, tôi phải tìm cách thuyết phục hai tên công an cởi dây trói và tháo còng cho chúng tôi. Muốn làm được điều này, tôi phải tạo cho hai tên công an thực sự tin tưởng vào lòng “ăn năn, hối cải, sẵn sàng chấp nhận để cho nhà nước cải tạo” của chúng tôi. Vì thế, tôi phải làm bộ “ngây thơ và dại dột lo ngại” trước viễn ảnh chúng tôi bị tù mọt gông, hoặc bị tử hình vì tội vượt biên, một khi chúng tôi về đến lao Thừa Phủ.



Quay sang tên Vân, tôi giả bộ băn khoăn hỏi:



- Thưa cán bộ, cán bố là người từng trải, có nhiều kinh nghiệm về tù vượt biên nên tôi muốn hỏi thật cán bộ điều này…



Tên Vân nhìn tôi gật đầu:



- Anh nói đi chớ.



- Cán bộ có biết, tội vượt biên của chúng tôi sẽ bị xử bắn hay bị xử tù chung thân?



Tên Vân phì cười lắc đầu. Tôi giả vờ sợ sệt nhìn y ra vẻ ngạc nhiên, không hiểu. Y nhìn tôi có vẻ thương hại:



- Tội vượt biên mà bị bắn thì cả nước này bị bắn hết sao chớ.



- Vậy tụi tôi có bị tù chung thân không cán bộ?



- Đảng và nhà nước dại gì mà bỏ tù chung thân mấy người vượt biên chớ. Bỏ tù người ta như vậy, lấy ai lao động xây dựng xã hội chủ nghĩa chớ.



Tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, mừng rỡ, nhưng trong ánh mắt vẫn đầy lo ngại, không hoàn toàn tin tưởng. Tên Vân lại lắc đầu thương hại:



- Tôi nói thiệt chớ, mấy anh thuộc loại nhát như thỏ đế, ăn trắng mặc trơn quen rồi. Đã chẳng hiểu gì về rừng núi, đường sá thì chẳng biết, lại sợ hãi đủ thứ, vậy mà cũng đòi cắt rừng vượt biên! Các anh là người thì sợ hổ sợ báo, sợ rắn rết… thì cũng được đi vì những thứ đó thì người nào mà chẳng sợ. Đằng này mấy anh sợ cả cóc nhái, đỉa vắt, gai góc, rồi lại còn mê tín dị đoan sợ cả ma quỷ thì làm sao mà vượt biên cho nổi được chớ.



Nghe tên Vân nhắc đến đó, tôi cười thầm, nhớ đến kế hoạch “đóng kịch” của chúng tôi trong những tuần lễ bị giam giữ ở Đông Hà. Thời gian đó, mỗi khi đi lao động ở bên ngoài, chúng tôi đều bàn nhau tìm cách đóng kịch giống hệt như mấy thanh niên sinh ra lớn lên ở thành phố, nay lần đầu thấy cảnh rừng rú nên gặp cái gì cũng sợ hãi “eo ôi”. Được cái may mắn là cả T và H đều là người sinh ra và lớn lên ở Sàigòn, được nuôi trưởng trong nhung lụa, nên những bỡ ngỡ, sợ hãi của T và H là hoàn toàn trung thực. Nhất là H, một nữ sinh Marie Curie, chưa từng trông thấy cây lúa bao giờ, mỗi khi làm cỏ lúa, lại nhổ cả lúa thay vì nhổ cỏ, nên khi trông thấy ếch, nhái, vắt đỉa,… H đều la hét sợ hãi nghe rất rùng rợn. Nhờ vậy những “giả bộ sợ hãi” của tôi nếu có sơ hở, cũng không bị mấy tên công an, bộ đội phát hiện. Cũng trong thời gian đi lao động, mỗi khi có dịp, chúng tôi luôn giả bộ hỏi những câu ngây ngô như “trong rừng có ma không”, “chuyện người rừng bắt mình ăn thịt có đúng không”, “chuyện quỷ nhập tràng có thật không”… Tất cả những câu hỏi ngây ngô này đã khiến cho công an, bộ đội ở Đông Hà tin tưởng, chúng tôi chỉ là những “thanh niên dại dột” nghe ai “xúi dại” mà đi vượt biên. Nhờ vậy, tôi đã che giấu được chân tướng của mình.



Nghe tên Vân tỏ ra “thương hại” như vậy, tôi tỏ vẻ ngượng ngùng:



- Thú thực với cán bộ, nghe người ta nói vượt biên dễ ợt, nên tụi tôi dại dột nghe theo, đâu có biết trên đường vượt biên lại gặp phải những thứ khủng khiếp đó.



Tiếp tục “cấy” vào óc tên Vân những ảo tưởng ngây thơ về mình, tôi hỏi tiếp:



- Vậy theo cán bộ, tội vượt biên của tụi tôi sẽ bị tù mấy năm?



Vân nheo mắt:



- Cái đó còn tuỳ theo sự thành khẩn ăn năn khai báo của các anh.



Tôi nhanh nhẩu;



- Thì cán bộ đã biết rồi đó, chúng tôi đã thành khẩn ăn năn, khai báo ngay từ đầu rồi còn gì…



- Mấy anh khi bị bắt thì anh nào chả nói vậy. Nhưng chúng tôi có tin các anh thành khẩn khai báo hay không mới là chuyện đáng nói. Nếu tin thì các anh chỉ ở tù khoảng nửa năm đến 2 năm là tối đa. Còn nếu không tin thì các anh sẽ bị tù mọt gông.



Tôi tỏ vẻ mãn nguyện và tin tưởng vào sự thành khẩn khai báo của mình:



- Cán bộ nói vậy thì tôi mừng quá. Tôi cứ tưởng mình sẽ bị tù chung thân, chứ chỉ có nửa năm đến hai năm tù nếu tôi thành khẩn ăn năn, thì tôi rất an tâm cải tạo…. để làm lại cuộc đời.



Tôi không biết lúc đó, tên Vân tin tưởng vào “thiện chí cải tạo” của tôi tới mức nào, nhưng tôi nghĩ, ít nhiều tôi đã thành công cho tên Vân hiểu, tôi sẵn sàng vui vẻ vào tù ngồi bóc lịch một hai năm để “chuộc tội vượt biên” mà tôi đã phạm. Như vậy trong đầu óc tên Vân sẽ không mảy may nghi ngờ đến chuyện tôi sẽ chạy trốn trên đường giải giao từ Đông Hà về Huế. Một khi y không nghi ngờ, y sẽ lơ là cảnh giác, tạo cho tôi nhiều cơ hội thoát thân.



Điều khó với tôi bây giờ là làm sao tháo được chiếc còng và sợi dây dù trói buộc cả ba đứa. Dĩ nhiên, đòi tên Vân tháo cả hai cùng lúc là điều không tưởng. Muốn thành công, tôi phải đánh từng bước. Bước đầu tiên là sợi dây dù. Nếu tên Vân tháo sợi dây dù, gặp điều kiện thuận lợi, cho dù tay bị còng, tôi vẫn có thể liều mạng bỏ chạy.



Sau hồi suy nghĩ thật lung, tôi thấy muốn tháo sợi dây dù chỉ có hai cách. Một là thuyết phục tên Vân. Hai là chờ đến bến xe Quảng Trị, xe phải đỗ lại cho khách lên xuống, mua bán, ăn uống,… ba đứa chúng tôi sẽ đòi đi tiêu, đi tiểu. Khi đó, bắt buộc tên Vân phải cởi trói sợi dây dù, và tôi phải tìm cách trốn thoát bằng mọi giá ngay tại bến xe thị xã Quảng Trị. Quyết tâm này của tôi bắt nguồn từ câu chuyện với ông HK. Chuyện đó đầu đuôi như sau.



Trong thời gian còn bị giam ở Đông Hà, ông HK đã cho tôi biết, không sớm thì muộn, công an biên phòng Đông Hà sẽ giải giao tất cả những tù chính trị, vượt biên về Huế. Còn tù hình sự, tội nhẹ sẽ được giải quyết ngay tại chỗ, còn tội nặng sẽ được giải về nhà tù của tỉnh Quảng Trị, hoặc đưa về Huế. Riêng trường hợp của ông HK, vì có quan hệ đặc biệt thế nào đó, nên tuy ông đã ở tù tại Đông Hà hơn nửa năm, chúng vẫn chưa có quyết định giải ông đi đâu.



Trong tù, ông HK là người thẳng thắn, cương trực, xứng đáng với câu “uy vũ bất năng khuất”. Ông cũng rất thương tôi và thường bảo tôi kể chuyện cho ông nghe. Mọi người thì thích nghe truyện Chưởng, nhưng ông lại khoái nghe truyện Tam Quốc, nên những khi kể truyện Tam Quốc, chỉ có tôi và ông. Khác với những người khác, nghe kể thì say sưa lắng nghe, ông lại hay cắt ngang, hỏi tới hỏi lui rồi lớn tiếng chửi bới hay ca ngợi nhân vật tôi vừa kể.



Biết trước mình sẽ bị giải về Huế, nên một hôm, sau khi kể cho ông nghe đoạn Trương Phi đại náo cầu Trường Bản, tôi thú thực với ông:



- Chú HK, nếu tôi bị tụi nó giải giao về Huế, có cách nào trốn được không, chú?



Ông HK trầm ngâm một lúc rồi bảo:



- Thường khi giải tù từ đây về Huế, tụi nó đều còng tay và trói tù lại thành từng chùm. Vì vậy, cơ hội duy nhất chú có thể chạy trốn là ở bến xe Quảng Trị. Chú mày có biết tại sao không?



Không chờ tôi trả lời, ông HK tiếp:



- Ở bến xe bao giờ cũng đông người qua lại. Đó là cái dễ thứ nhất. Cái dễ thứ hai là khi tới bến xe Quảng Trị, bao giờ hành khách trên xe cũng phải xuống ăn uống, vệ



sinh cá nhân, đổi xe đi các nơi, nên rất lộn xộn. Vì vậy, khi đến đó, tao nghĩ tốt nhất chú mày nên giả vờ xin đi cầu…



Tôi ngạc nhiên:



- Xin đi cầu?



Ông HK gật đầu:



- Nếu đến đó chú mày xin đi cầu, tụi nó phải cho người giải chú mày đến nhà cầu, rồi cởi trói, cởi còng cho chú mày.



- Nhưng đi cầu thì làm sao mà trốn?



- Khi chúng nó cho chú mày đi cầu, thì chú mày đừng đi cầu.



Tôi ngạc nhiên:



- Ủa, sao vậy?



Ông HK mỉm cười:



- Thì chú mày vô trong nhà cầu, đóng cửa lại rồi đứng im đó chờ, chớ vô đó mà đi cầu thì làm sao trốn được. Thằng công an đứng ngoài chờ lúc lâu không thấy động tĩnh gì, thì việc đầu tiên nó phải làm là gọi. Nghe nó gọi thì chú mày đừng trả lời. Gọi một lần, hai lần, ba lần,… không thấy chú mày trả lời là nó phải đẩy cửa, thò đầu vô. Khi đó chú mày chỉ cần bất thình lình, dùng hết sức đóng cánh cửa lại thật mạnh hay đập cho nó một cú, thì nó có khoẻ như voi, cũng phải gục.



Tôi thầm phục mưu kế của ông HK và tôi tin mình có thể thực hiện được mưu kế đó. Dĩ nhiên, mưu kế của ông tuy không hoàn toàn hoàn hảo, nhưng tôi phải thừa nhận là có thể thực hiện được. Vả lại, xưa nay có mưu kế vượt ngục nào hoàn hảo. Trong hoàn cảnh của tôi lúc đó, tôi phải chấp nhận con đường ít rủi ro nhất, mà mình có thể thực hiện. Nhất là trong hoàn cảnh hiện nay, cả ba chúng tôi đều ngồi trên xe đò chạy về thị xã Quảng Trị, và cơ hội duy nhất giúp tôi có thể chạy trốn đang chờ tôi ở phía trước.



Ngay sau khi nghe mưu kế của ông HK, điều khiến tôi lo ngại là T và H. Làm sao tôi có thể thuyết phục được cả T và H cùng trốn với tôi? Nếu tôi thuyết phục được T và H đồng ý cùng trốn thì chúng tôi sẽ phải trốn như thế nào? Chắc chắn cả ba chúng tôi không thể nào cùng trốn theo mưu kế của ông HK được. Tôi có đem lời ông HK tâm tình, kể cho T và H nghe nhân dịp chúng tôi đi lao động ở ngoài rừng. Nghe tôi nói, cả T và H đều hoảng hốt. H nói với tôi, giọng sợ hãi: “Cậu Chí, chúng cháu không dám trốn đâu. Cậu trốn một mình cậu đi. Chúng cháu vượt biên rồi bị bắt mấy lần nên chúng cháu biết, chúng cháu chỉ bị tù một năm là cùng thôi. Biết tin chúng cháu bị bắt, thế nào mẹ cháu cũng tìm đường “lo lót”, nên sớm muôän gì tụi cháu cũng được thả thôi, không lâu đâu. Còn cậu, nếu gặp cơ hội thì cậu cứ trốn đi, vì cậu ở lại, trước sau gì chúng cũng sẽ biết cậu và chúng sẽ giết cậu…”



Vào khoảng xế trưa hôm đó, xe chạy vô bến xe Quảng Trị. Trái ngược với lời kể của ông HK, bến xe rất vắng vẻ. Khoảng bốn, năm chiếc xe đậu lác đác trên một bãi đất rộng và trống mênh mông. Một dẫy lán siêu vẹo với đủ loại hàng quán sơ sài nằm ngang với khu nhà gạch tiêu điều, vừa làm văn phòng, phòng bán vé và cửa hàng ăn. Phía xa xa, cuối bãi đậu xe là một dẫy nhà cầu mái tranh, tường đất, vô cùng tiêu điều, trống trải. Nhìn quang cảnh vắng vẻ và trống trải mênh mông đó, tôi thấy ngay, tôi không tài nào trốn thoát theo kế hoạch của ông HK. Tôi biết chắc, cho dù tôi có chui vô được nhà cầu đi nữa thì với sự trống trải cả bốn phía như vậy làm sao tôi có thể đánh lừa được tên công an có trách nhiệm canh giữ tôi. Và cho dù tôi có đánh gục tên công an ngay cạnh nhà cầu đi nữa, tôi cũng chẳng thể nào chạy trốn giữa bãi đất bốn bề mênh mông trống vắng phẳng lỳ, mà không bị tên công an còn lại phát hiện.



Đứng giữa bãi xe, tôi băn khoăn vô cùng. Tôi không biết mình có nên xin đi cầu để rồi liều mạng thực hiện mưu kế của ông HK, hay nên chờ đợi cơ hội thứ hai, khi xe về đến thành phố Huế. Và tôi cũng không biết khi về đến Huế, liệu tôi có gặp được cơ hội thứ hai, hay tình thế còn bi đát, nguy hiểm hơn ở đây? Giữa lúc tôi đang lưỡng lự như vậy thì tên Vân cầm giây trói kéo chúng tôi đi đến một chiếc xe đò dài hơn, mới hơn, có dòng chữ Quảng Trị – Huế. Tên Vân leo lên xe đầu tiên. Ba đứa chúng tôi lục tục leo theo sau.



Cũng giống như xe đò từ Đông Hà đi Quảng Trị, tên công an cùng đi với chúng tôi đã ngồi chễm trệ trên chiếc ghế duy nhất phía trước, ngay bên phải tài xế. Ba đứa chúng tôi ngồi vào hàng ghế ngay sau tài xế. Tên Vân ngồi vào dẫy ghế bên phải, đã có hai người ngồi. Riêng hàng ghế của chúng tôi tuy có 4 chỗ ngồi, nhưng chỉ có 3 đứa chúng tôi.



Khác với chuyến xe từ Đông Hà ra Quảng Trị, chuyến xe từ Quảng Trị đi Huế đông khách hơn, và hầu hết hành khách trên xe đều là người Kinh. Ngay khi thấy ba người chúng tôi bước lên xe với còng tay và dây trói, thái độ của mọi người trong xe cũng khác. Nếu hành khách trên xe Đông Hà Quảng Trị thờ ơ lạnh nhạt, thì trái lại, tất cả hành khách trên xe Quảng Trị Huế đều công khai tỏ thái độ quan tâm đến chúng tôi, và ác cảm đối với hai tên công an. Tôi nghe nhiều người ồ lên, nhiều tiếng nói xôn xao, hai ba thanh niên ở phía dưới huýt sáo, kèm theo vài tiếng chửi thề. Thái độ của hai tên công an cũng khác. Trên chuyến xe Đông Hà đi Quảng Trị, chúng tỏ vẻ hống hách, thì trái lại, trên chuyến xe Quảng Trị Huế, chúng có vẻ nhút nhát, thụ động và chịu đựng.



Chúng tôi ngồi vừa yên chỗ thì xe từ từ chuyển bánh rời khỏi bến xe Quảng Trị. Nhìn ra bên ngoài, tôi thở dài, tiếc cho một “cơ hội có thể trốn” mà mình vừa đánh mất, và lo lắng, không biết từ Quảng Trị về Huế, tôi có còn gặp cơ hội nào khác để trốn thoát hay không?…



KỲ 74



Xe vừa rời thị xã Quảng Trị được mươi phút, bỗng ở phía sau xe có người cất giọng hò: Từ ngày “cách mạng mùa thu”. Tiếng hò vừa dứt, một người khác hò tiếp ngay: Thằng khôn đi học thằng ngu làm thầy! Nghe tiếng hò, hầu hết hành khách trong xe đều cười ầm ĩ, vỗ tay vang dậy. Chỉ có chúng tôi là im lặng, chỉ dám cười thầm trong bụng. Tôi kín đáo liếc nhìn tên Vân, thấy mặt y đỏ bừng, nhưng y vẫn ngồi yên, tảng lờ như không nghe thấy gì. Viên tài xế đang lái xe, khẽ quay sang bên trái nhìn trộm tên công an ngồi cạnh. Tên này vẫn lạnh lùng nhìn thẳng phía trước. Thái độ tảng lờ, thụ động của hai tên công an càng khiến hành khách trong xe xôn xao, cười cợt khoái trí. Hai người lúc nẫy lại cất tiếng hò tung hứng: Một năm hai thước vải thô. Làm sao che kín “Bác Hồ” em ơi! Mọi người trong xe lại cười, hét, huýt sáo ầm ĩ. Hai tên công an vẫn tảng lờ, bất động. Phải đến mấy phút sau, tiếng cười, tiếng hò hét trong xe mới nhỏ dần…. Rồi kế tiếp, mấy người ngồi ở cuối xe lại cất tiếng hát: Tổ quốc ơi, ăn khoai mì ngán quá. Từ ngày giải phóng vô đây, ta ăn độn dài dài… Hát chán, mọi người lại bô bô kể đủ thứ chuyện “quê mùa” của bộ đội, công an cộng sản khi vô Miền Nam, rồi cười ngặt nghẽo…



Thấy mọi người có thái độ chống đối cộng sản một cách công khai trong khi hai tên công an có thái độ thụ động như vậy, tôi rất mừng. Trong hoàn cảnh như vậy, tôi nghĩ nếu tôi có hành động liều lĩnh chạy trốn, chắn chắn sẽ có người giúp đỡ tôi, không nhiều thì ít. Nhưng dù liều lĩnh như thế nào đi nữa, tôi chẳng thể nào chạy trốn nếu tôi không thoát khỏi sợi dây dù trói chùm cả ba đứa chúng tôi. Bây giờ làm cách nào để cho tên công an chấp nhận cởi trói sợi dây dù? Nhất là khi cả hai tên công an đều đang “quê độ” trước sự chọc giận công khai của các hành khách trong xe.



Giữa lúc tôi đang băn khoăn lo nghĩ, thì người đàn bà ngồi ngay phía sau công an Vân, lấy tay đập đập vào vai y rồi hỏi giọng thân mật:



- Chú công an khoẻ không?



Tên Vân giật mình, quay lại nhìn người đàn bà, rồi nhìn qua tôi. Nét mặt của y lộ vẻ lúng túng, không biết ứng xử thế nào. Sau vài giây im lặng, y không thèm trả lời vào câu hỏi mà lại cấm cẳn:



- Bà muốn gì?



Người đàn bà tuổi ngoài 50, quần áo lam lũ, mái tóc búi tó để lỏng phía sau, phía trước toá xoã vẻ biếng trải, nhưng gương mặt sáng sủa, ánh mắt đằm thắm. Bà mỉm cười nói với tên Vân, giọng chân thành:



- Tôi đâu có muốn gì. Tôi chỉ hỏi chú công an có khoẻ không… Mình người Việt với nhau, một phút gặp nhau cũng đà quen biết, huống hồ tôi với chú lại đi cùng một chuyến xe với nhau, nên hỏi thăm sức khoẻ nhau là thường, mà chú. Vả lại, tôi cũng có thằng em làm công an, chạc tuổi chú đó mà.



Tên Vân lừ lừ nhìn bà không nói. Qua ánh mắt và vẻ mặt đầy cảnh giác của y, tôi đoán có lẽ y không tin lời của người đàn bà, nhưng vì trong xe đầy không khí thù nghịch, nên y không tiện phát tác. Người đàn bà vẫn tươi tắn, hồn nhiên:



- Tôi tên Xuân, nhưng chú cứ gọi tôi là chị Ba cho thân mật. Còn chú tên chi vậy?



Tên Vân trả lời gọn lọn:



- Vân!



Chị Ba vui vẻ:



- Vân? Tên của chú dễ thương hỉ. Giống tên con gái quá.



Tên Vân cãi, nhưng giọng nói của y có phần bớt gay gắt:



- Cha mẹ đặt sao dùng vậy. Tui mới đẻ làm sao biết tên nào con gái, tên nào con trai.



- Thì tôi cũng nói đùa chú vậy thôi. Có gì sai sót, mong chú bỏ qua cho…



Nói đến đó, chị Ba rút trong túi đồ, gói thuốc lá đầu lọc. Chị rút ra một điếu, đưa cho tên Vân, nói giọng đon đả:



- Chú Vân hút với tôi điếu thuốc cho thơm miệng.



Tên Vân sáng mắt nhìn điếu thuốc, nhưng có vẻ ngần ngừ, cuối cùng y cũng cầm điếu thuốc. Chị Ba thành thạo bật quẹt mồi lửa cho y, rồi mồi cho mình một điếu. Nhìn tên Vân rít điếu thuốc một hơi đỏ lừ, ém khói ngon lành, chị Ba kín đáo dúi cho y gói thuốc, rồi nói, giọng thân mật:



- Nói chú đừng giận, nhưng tính tôi thật thà, nghĩ sao nói vậy. Chú cầm lấy gói thuốc này mà hút. Thời buổi bây giờ làm công an, tiền bạc đâu có bao nhiêu… Chú em tôi mỗi khi về nhà chơi, tôi vẫn phải cho nó tiền, nên tôi biết…



Tên Vân ngượng ngùng nhìn trộm tôi. Tôi giả vờ như không biết, nhưng qua đuôi mắt, tôi thấy tên Vân kín đáo cầm gói thuốc bỏ vào túi, rồi nói lí nhí hai tiếng “Cảm ơn”. Chị Ba tảng lờ như không thấy vẻ ngượng ngùng của tên Vân, tiếp tục đon đả trò chuyện. Quả nhiên, một lúc sau, tên Vân cũng vui vẻ nói chuyện với chị Ba. Và tôi cũng không hiểu sao, từ khi chị Ba nói chuyện thân mật với tên Vân, không khí chọc quê cộng sản bằng những câu chuyện châm biếm nổi tiếng thời bấy giờ, cũng giảm dần.



Cho đến lúc đó, tôi cũng ngạc nhiên trước thái độ thân mật của chị Ba đối với tên Vân. Nhưng qua ánh mắt trong sáng và gương mặt chân thành của chị, tôi vẫn thấy tin tưởng ở chị, và tôi linh cảm đằng sau thái độ thân mật của chị với tên Vân, có lẽ đang ngầm chứa một toan tính nào đó, tôi chưa thể hiểu.



Giữa lúc tôi đang băn khoăn nghĩ ngợi, bỗng tôi nghe chị Ba nói với tên Vân:



- Chú Vân nè, nói chuyện với chú từ nẫy đến giờ tôi thấy chú cũng là người hiền lành, chất phác, nên tôi có đề nghị này muốn nói với chú. Chú có cho phép thì tôi mới nói…



Tên Vân nhanh nhẩu gật đầu:



- Chị Ba muốn nói gì thì nói đi, đừng ngại gì chớ.



Chị Ba chỉ ba đứa chúng tôi, nói nhỏ:



- Mấy người này phạm tội với cách mạng, phải không chú?



Tên Vân liếc nhìn chúng tôi, rồi y gật đầu, không nói. Chị Ba tiếp:



- Tôi thì tôi không biết họ tội gì. Nhưng chú đã còng tay họ là đủ rồi, sao còn phải buộc dây trói chùm họ lại với nhau vậy? Trói như vậy thì có vẻ tàn nhẫn quá, phải không chú?



Tên Vân lúng túng:



- Thì lệnh trên… bảo vậy. Tụi tôi chỉ biết thi hành chớ.



Chị Ba ngọt ngào:



- Tôi biết, tôi biết, chỉ vì lệnh trên bảo làm như vậy, chứ chú đâu có thể nào tàn nhẫn như vậy được. Nhưng tôi thấy chú làm như vậy là mất uy tín của cách mạng lắm đó. Người ngoài nhìn vô họ thấy cách mạng gì mà tàn nhẫn, đã còng tay người ta lại còn trói trùm người ta lại với nhau.



Quay qua phía hành khách, chị Ba nói lớn: “Bà con trong xe nghe tôi nói vậy có phải không?”



Mọi người trong xe ồ lên tán thưởng. Thôi thì mỗi người mỗi tiếng, mỗi lời nói khác nhau, xôn xao cả trong xe. Chị Ba quay qua tên Vân, nói tiếp, giọng đầy thuyết phục:



- Ai thì cũng biết lệnh trên là như vậy. Nhưng chú là người thi hành. Cấp trên thì ở xa, còn ở đây thì chỉ có chú với chú công an ngồi kia. Mà tôi xem thì mặt mũi của hai chú đều hiền từ, chắc ông bà của hai chú cũng ăn ở có nhân có đức lắm nên các chú mới được như vậy… Vì thế, tôi xin hai chú, thôi thì cởi trói cho người ta, còng tay người ta thế này là đủ rồi…



Tên Vân chưa kịp lên tiếng, thì có tiếng nói sang sảng của một người đàn ông ở phía sau:



- Bà chị nói vậy là đúng lắm rồi đó chú em công an. Qua nói để chú em biết, xe cộ chạy trên đường này là dễ gặp tai nạn lắm. Nay chú trói chùm người ta lại với nhau như vậy, lỡ chẳng may xe bị lật, chìm xuống sông xuống hồ, thì làm sao người ta có thể thoát nổi? Người ta có tội thì để cho cách mạng xét xử, bỏ tù. Nhưng chú trói chùm cả ba người lại, lỡ chuyện gì xảy ra có phải là người ta bị chết oan không nào? Khi đó tội lỗi bao nhiêu là chú chịu, chớ lãnh đạo nào chịu vào đấy. Tôi nói vậy, bà con đồng ý với tôi thì vỗ tay lên cho chú em công an đây chú ấy nghe…



Người đàn ông vừa dứt lời, cả xe đã vỗ tay vang dội. Người đàn ông lại cất tiếng:



- Còn bác tài, không vỗ tay được nhưng thấy tôi nói có tình có lý thì lên tiếng đi chớ?



Ông tài xế, khẽ quay mặt lại một chút, nói lớn:



- Bác Bảy nói vậy là trúng lắm đó, mấy chú công an…



Chị Ba ráng một đòn cuối cùng. Chị lấy trong túi ra mấy chùm giò lụa, mỗi chùm khoảng 4, 5 chiếc giò lụa loại nhỏ, bằng nửa cổ tay. Trao cho tên Vân hai chùm, chị nói:



- Đây chú cầm lấy một chùm, một chùm cho chị gửi cho chú công an kia, để hai chú ăn lấy thảo. Còn chùm giò này, chú cho phép chị đưa cho mấy người tù để họ ăn. Bây giờ, chú thương chị, thương bà con cô bác trên xe, cởi trói cho mấy người này để họ được ăn uống ngon lành, chớ trói chùm họ như vậy thì làm sao họ ăn uống tự nhiên được, phải không chú?



Tên Vân lúng túng nhìn chúng tôi, rồi ấp úng nói cái gì, tôi nghe không rõ. Trông ánh mắt của y, tôi rất mừng vì biết, y sắp bị khuất phục… Chị Ba lại mềm mỏng nói tiếp:



- Chú cứ nghe chị, cởi trói cho họ ăn xong cây giò này, nếu sau đó họ có cử chỉ gì nghi ngờ, chú lại trói họ lại như cũ. Mà chị bảo đảm với chú là không có chuyện gì đáng tiếc đâu.



Tên Vân gật đầu:



- Chị Ba đã nói vậy thì… để tôi bàn với đồng chí X xem sao…



Nói xong, tên Vân cầm chùm giò, loạng choạng đi lên, ghé tai tên X thì thầm một hồi, rồi trao chùm giò cho X. Dĩ nhiên cho đến lúc đó, mọi lời đối đáp trò chuyện trên xe, tên X đều nghe thấy hết, nhưng không hiểu sao y vẫn ngồi bất động, nhìn thẳng về phía trước. Thấy Vân thì thầm, tên X gật gật đầu, tôi rất mừng. Đến khi X đưa tay cầm chùm giò lụa từ tay tên Vân, tôi thở phào tin tưởng, chúng tôi sẽ được cởi trói. Quả nhiên, tên Vân quay lại, nét mặt tươi tỉnh, nói với chị Ba:



- Tụi tôi nể chị lắm, nên cởi trói cho họ. Nhưng chị phải bảo đảm là họ không trốn đấy chớ.



Mọi người trong xe vỗ tay vang dội. Có người còn ngây ngô hô to, “Công an muôn năm!” (???) Chị Ba cũng vui vẻ:



- Cảm ơn chú. Chú cứ cởi trói cho họ đi. Nếu họ trốn chạy, chú cứ trói tôi lại là xong.



Nghe mấy chữ “trói tôi lại là xong”, tên Vân đực mặt ra nghĩ và một thoáng băn khoăn hiện lên trên gương mặt của y. Tôi nghĩ, có lẽ câu nói của chị Ba đã khiến tên Vân nghĩ lại mà đâm lo ngại. Nếu tù chạy trốn, làm sao tên Vân có thể trói được chị Ba? Và dù cho khi đó y có trói cả mấy chục hành khách trên xe, y cũng chẳng thể nào thoát khỏi tội để xổng tù. Có lẽ hiểu tên Vân đang nghĩ gì, nên chị Ba vội lên tiếng trấn an:



- Trời ơi, chú Vân, chú còn lo nghĩ gì nữa. Xe thì đang chạy vù vù như thế này, người ta lại bị còng tay như vậy, thử hỏi ai dám trốn? Các chú còn súng ống đầy người nữa… Người bình thường mà nhảy xuống xe còn tan xương nát thịt nữa là…



Đến lúc này, tên Vân hoàn toàn bị khuất phục. Y thở dài, quay qua chúng tôi nói:



- Vì đồng bào trên xe muốn bảo vệ uy tín của cách mạng nên yêu cầu chúng tôi cởi trói tạm thời cho các anh. Các anh cấm không được tự tiện đứng lên, hay đi lại, là chết đấy nhé. Muốn gì các anh phải xin phép và được chúng tôi cho phép mới được làm. Các anh có đồng ý như vậy không chớ?



Chúng tôi vội thi nhau gật đầu, thi nhau nói “đồng ý”. Tên Vân vẫn chưa yên tâm. Y đưa tay vỗ vỗ vào khẩu súng ngắn đeo bên hông rồi nói tiếp, giọng đe doạ:



- Các anh phải nhớ, nếu trái lệnh là các anh sẽ bị xử lý tại chỗ đấy nhé. Các anh nghe rõ chưa?



Chúng tôi lại gật đầu, ngoan ngoãn nói “thưa cán bộ nghe rõ”. Tên Vân nhìn chúng tôi, rồi không hiểu sao, y đưa tay mở khoá bao súng, lừ lừ nhìn chúng tôi không nói. Sau một thoáng im lặng, tên Vân cúi xuống rồi lần lượt tháo nút dây dù buộc tay của tôi, T và H. Cuộn sợi dây dù vô khuỷu tay, tên Vân trở lại chỗ ngồi, nét mặt y đăm chiêu, như vừa phải làm một việc mà y không muốn.



Chị Ba cầm chùm giò đưa cho tên Vân, hỏi: “Bây giờ chú bóc mấy chiếc giò này rồi đưa cho họ ăn, hay để tôi làm hộ chú?”



Tên Vân không trả lời, chỉ phẩy phẩy tay về phía chị Ba. Chị Ba nói nhỏ, “cảm ơn chú nghe”, rồi chị bóc lá từng chiếc giò, đưa cho tôi, cho T và cho H. Chúng tôi cầm chiếc giò ăn ngon lành, ai cũng cảm động vì đây là lần đầu tiên chúng tôi được thưởng thức miếng giò lụa sau thời gian cả tháng trời sống trong thiếu thốn, thèm khát trong trại giam Đông Hà.



Riêng tôi, khi được ăn miếng giò lụa, trong lòng tôi còn mừng rỡ vô hạn, vì chặng đường khó khăn nguy hiểm nhất tôi đã vượt qua. Nhờ sự khôn khéo giúp đỡ của chị Ba và hành khách trong xe, cuối cùng, sợi dây dù trói chùm cả ba chúng tôi đã được cởi! Chặng đường kế tiếp tôi phải vượt qua là chiếc còng số 8. Tôi sẽ phải tìm đủ mọi cách để thuyết phục tên Vân cởi chiếc còng, trước khi tôi liều mạng bỏ chạy. Và cho dù tôi không thành công trong việc cởi chiếc còng số 8, thì trước khi đến lao Thừa Phủ Huế, tôi cũng vẫn phải bỏ chạy. Tôi đã quyết tâm chọn cho mình một con đường: Ngày hôm nay, bằng mọi giá, tôi phải trốn thoát, hoặc tôi phải chấp nhận bị bắn gục ngay trên đường phố Huế!



KỲ 75



Trên chặng đường từ Quảng Trị đi Huế dài hơn 60 cây số, chị Ba và mấy người khách trên những hàng ghế đầu, đều vui vẻ trò chuyện với tên Vân công an, cho y đủ thứ đồ ăn, thức uống, thuốc lá,… nên bầu không khí căng thẳng trong xe lúc đầu đã biến mất lúc nào không hay. Mọi người trong xe cũng thôi không kể những câu chuyện châm biếm, chọc ghẹo bộ đội, nên cả hai tên công an cũng không còn ngượng ngùng, lúng túng như trước. Trong bầu không khí “thân mật” như vậy, chúng tôi cũng trò chuyện vui vẻ với tên Vân, nên sự nghi kỵ thù nghịch cũng giảm đi rất nhiều. Tôi vui mừng và hy vọng, với chiều hướng tốt đẹp như vậy, tôi sẽ thuyết phục được tên Vân cởi còng cho chúng tôi một khi đến Huế.



Huế là thành phố có vẻ đẹp rất quyến rũ qua những đường nét cổ kính. Nhất là vào mùa mưa, với những trận mưa phùn, đường phố thấp thoáng người qua lại, tạo cho thành phố vẻ đẹp trầm buồn, khiến lòng người, dù già hay trẻ, lúc nào cũng phảng phất bâng khuâng mà không hiểu vì đâu. Từ khi đặt chân đến Miền Nam, tôi được đến Huế đôi ba lần, nhưng lần nào cũng vội vã, chẳng nhớ rõ đường phố, quang cảnh của thành phố, vậy mà mỗi khi đọc thấy ở đâu hay nghe ai nhắc đến Huế, là tôi thấy lòng xao xuyến và hình ảnh Huế lại hiện về thật rõ trong tâm trí…



Khi xe tiến vô thành phố Huế, tên công an ngồi ở trên quay sang phía tài xế nói gì, tôi nghe không rõ, chỉ thấy người tài xế gật gật đầu. Khoảng mươi phút sau, xe chạy chậm dần rồi dừng lại tại một góc đường. Tên công an ngồi phía trước đứng dậy, quay xuống gật đầu với tên Vân. Tên Vân đứng dậy, quay sang phía chúng tôi, nói giọng vui vẻ:



- Rồi, bây giờ chúng ta xuống xe chớ.



Cả ba chúng tôi vội vàng đứng dậy. Trong lòng tôi phập phồng lo âu, vì tôi biết, trong khoảng thời gian ngắn ngủi trước mắt, mọi chuyện sinh tử của tôi sẽ được quyết định.



Ngay lúc ấy, chị Ba cũng đứng dậy, cầm cây thuốc lá trao cho tên Vân và nói:



- Chị cho hai chú cây thuốc…



Tên Vân lúng túng đẩy ra:



- Úi trời, sao chị tốt với tụi tôi thế chớ…



Chị Ba lại dúi cây thuốc vào tay tên Vân, nói giọng ngọt ngào thân mật:



- Chú này sao mà khách sáo thế. Chị cho thì cứ cầm lấy…



Tên Vân quay nhìn tên công an kia. Tên này gật đầu. Tên Vân liền cầm cây thuốc đút vô ba lô, rồi vui vẻ nói, vẻ khiêm tốn:



- Vâng chị cho thì chúng em xin chớ. Chúng em cảm ơn chị.



Chờ tên Vân đút cây thuốc vào ba lô xong, chị Ba nói tiếp, giọng nhỏ nhẹ, khuyên bảo:



- Chị cũng cảm ơn hai chú đã nghe lời chị, cởi trói cho mấy người này. Thôi thì các chú đã làm phúc, mình không hưởng thì con cháu các chú cũng được hưởng. Còn cái còng tay, nếu hai chú nể lời chị, thì tháo còng cho họ. Coi mặt mũi mấy người này cũng thật thà. Họ chỉ dại dột phạm tội vượt biên chứ đâu có phải cướp của giết người gì, phải không hai chú? Dong người ta đi giữa phố phường, thanh thiên bạch nhật này mà còng tay họ như vậy thì còn gì là uy tín của cách mạng…



Tên Vân ngần ngừ:



- Chị khuyên, thì tụi này cũng muốn nghe. Nhưng…



Chị Ba vội đỡ lời:



- Vì coi hai chú như em, nên chị khuyên vậy thôi, hai chú nghe thì chị mừng, còn không thì chị cũng chẳng giận. Bây giờ chị có mấy gói thuốc và ít tiền muốn cho mấy người này, có được không chú?



Tên Vân quay sang nhìn tên công an kia. Tên kia không nói, không gật cũng không lắc. Y thản nhiên nhảy xuống xe. Tên Vân nhìn chị Ba gật đầu:



- Thuốc thì chị cho họ được, còn tiền… thì không.



Chị Ba vội vàng dúi vào túi áo ngực của tôi và T, mỗi người một gói thuốc lá. Tôi nhìn chị, xúc động, nói vội:



- Cảm ơn chị… Chị tốt quá.



Sau đó, chúng tôi lần lượt lưu luyến chào chị rồi bước xuống xe. Tên Vân bước xuống sau cùng. Xe từ từ chuyển bánh. Mấy người trên xe thò đầu, thò tay ra vẫy. Tôi và T tay bị còng nên đứng yên nhìn theo trong niềm xúc động. Còn H vì hai tay không bị còng, nên dơ tay vẫy theo. Hai tên công an cũng nhìn nhau, rồi không ai bảo ai cũng dơ tay vẫy lấy vẫy để…



Khi chiếc xe khuất bóng, tên Vân quay sang thì thầm với tên công an kia, rồi bảo chúng tôi:



- Bây giờ các anh giữ gìn trật tự và kỷ luật đi theo chúng tôi thì chúng tôi sẽ không trói các anh nữa…



Thấy y có vẻ dễ dãi, tôi vội nói, giọng lễ phép:



- Thưa cán bộ, cán bộ còng tay chúng tôi như thế này mà bắt chúng tôi đeo ba lô, đi bộ giữa phố thì kỳ lắm, ảnh hưởng đến uy tín cách mạng…



Tên Vân im lặng. Tên công an kia sẵng giọng:



- Sao mà kỳ? Xưa nay, dong tù đến lao Thừa Phủ này, ai cũng phải còng tay như vậy hết. Các anh đừng có bướng. Tưởng tháo được dây trói rồi leo thang làm tới có phải không? Thôi đi, không có nói lôi thôi gì nữa.



Nói xong, y quay lưng đi đầu. Tiếp theo là T, H và tôi. Tên Vân đi sau cùng. Tôi không biết đường tôi đi là con đường nào, và bao lâu thì sẽ tới lao Thừa Phủ, nên tôi cũng không biết khi nào, ở đâu, tôi có thể chạy trốn tốt nhất. Biết rằng, chạy trốn giữa ban ngày, ở giữa thành phố Huế, với hai tên công an có vũ khí đang canh chừng là một hành động phiêu lưu, đầy nguy hiểm. Nhưng tôi đâu còn có cách nào hơn. Nguy hiểm hơn nữa, tôi thấy trên đường phố lác đác có những tên công an áo vàng, bộ đội đi lại. Như vậy, dù tôi có chạy thoát khỏi tay hai tên công an áo vàng đang dong giải, tôi vẫn có nguy cơ bị bắt. Khó khăn hơn, với hai tay ở phía trước bị còng trong chiếc còng số 8 và chiếc ba lô đeo sau lưng, dây ba lô thì choàng qua cổ, làm sao tôi có thể chạy?



Đi được khoảng mấy trăm thước, sau một thoáng suy nghĩ, tôi quyết định làm bài liều. Tôi vội nhịn thở, rồi phình hơi trong bụng và trong ngực thật căng, cho hơi nóng và máu dồn lên mặt. Đếm thầm trong óc được khoảng một phút, thấy đầu choáng váng, mắt hoa, tôi liền giả vờ bước loạng choạng, rồi khuỵu chân, kêu lên một tiếng thất thanh trước khi té rụi bên lề đường….



Thấy vậy, tên Vân vội bước tới, lay lay vai tôi. Tôi hé mắt, miệng thều thào:



- Cán bộ… tôi không… thở được.



Nhìn thấy mặt mũi, cổ của tôi đỏ bừng, trong khi dây ba lô thít chặt lấy cổ của tôi, tên Vân vội vàng gỡ chiếc ba lô ra khỏi cổ. Tôi nằm vật ra đường, miệng mũi thở hổn hển một hồi rồi nói, giọng thảm thiết:



- Cán bộ làm ơn tháo còng tay để tôi đeo ba lô, chớ còng tay tôi rồi bắt tôi đeo ba lô bằng cổ thì làm sao tôi thở nổi.



Tên Vân cáu kỉnh:



- Bao nhiêu người đeo ba lô bằng cổ đâu có sao. Đó, anh T kia cũng đeo ba lô bằng cổ như anh, đâu có thấy gì…



Đã liều thì ba bẩy cũng liều. Tôi thều thào bịa:



- Tôi bị bệnh… tim.



Tên Vân trợn mắt:



- Anh bị bệnh tim? Sao ở trại anh không khai báo?



Tôi giả vờ nói như người sắp chết:



- Cán bộ biết… tôi mà. Tôi đâu… dám nói dối…



Lúc đó, tên công an kia bước tới hỏi tên Vân. Tên Vân nói gì đó một hồi. Bước lại phía tôi nằm, tên kia đá nhẹ vào hông rồi bảo, giọng gay gắt:



- Tôi cho anh đúng 10 giây, anh phải đứng dậy đi ngay.



Tôi giả vờ hoảng hốt, vội vã bò dậy, nhưng miệng vẫn mếu máo:



- Thưa cán bộ, tôi mệt quá, tôi không thở được…. Tôi chết mất…



Tên Vân thở dài, giọng thương hại:



- Thôi được, anh để tôi mang ba lô cho anh.



Nghe y nói vậy tôi chết điếng. Y mang ba lô hộ tôi thì tôi chẳng còn lý do gì để đòi y tháo còng. Tuy bế tắc như vậy, nhưng tôi vẫn phải giả vờ vui mừng và biết ơn:



- Cảm ơn cán bộ.



Sau đó, chúng tôi tiếp tục lên đường với đội hình như cũ. Chỉ khác là lần này, tôi không phải đeo ba lô, còn tên Vân thì phải đeo cả chiếc ba lô của y và chiếc ba lô của tôi. Tuy ba lô của tôi không nặng nề lắm, nhưng đeo 2 chiếc ba lô, đi bộ trên đường phố giữa trời nắng chang chang, cũng khiến y vất vả, mệt mỏi… Vì vậy, giữa lúc tôi đang lo lắng, băn khoăn quan sát đường xá tính kế liều mạng thoát thân, bỗng dưng tên Vân quát to:



- Anh Chí đứng lại!



Tôi giật mình, vội đứng khựng, trong lòng lo ngại. Tên công an đi đầu và H, T đang đi nghe quát cũng dừng bước, quay lại nhìn. Tên Vân vứt phịch cả hai chiếc ba lô xuống đường, rồi lôi chùm chìa khóa đeo ở thắt lưng. Chẳng nói chẳng rằng, y bước tới trước mặt tôi, tra chìa khóa vào chiếc còng số 8 tôi đang đeo, loay hoay mở…



Thấy vậy, tên công an kia vội hét lên:



- Ê Vân, mày làm gì vậy?



Tên Vân không thèm trả lời, tiếp tục mở còng cho tôi. Tên công an kia bước tới:



- Mày điên rồi à? Tháo còng cho nó, lỡ nó trốn thì sao?



Tên Vân thản nhiên:



- Nó trốn tao chịu!



- Bộ tao không chịu sao?



Tên Vân vỗ vỗ tay vô khẩu súng ngắn đeo ở hông:



- Long, mày biết tài bắn súng của tao mà.



Thì ra tên công an đi cùng với tên Vân là Long. Mãi đến lúc này nghe Vân nói, tôi mới biết. Tên Long lại hét lên:



- Ai chả biết mày bắn giỏi. Nhưng tháo còng cho nó để nói chạy, dù mày có bắn chết nó thì cả mày lẫn tao cũng vẫn bị tù.



Tên Vân phớt lờ lời nói của tên Long. Y lạnh lùng nhét chiếc còng số 8 vô đằng sau lưng, ném trả tôi chiếc ba lô, rồi quá cụt lủn: “Đi!”



Được cởi còng, tôi mừng quá, muốn thét lên. Nhưng ngoài mặt, vẫn ra vẻ mệt mỏi, tôi chậm rãi khoác ba lô lên vai, thở dài đứng dậy, bước đi uể oải. T và H nhìn tôi, ánh mắt chứa đầy ngụ ý và sự gửi gắm, rồi bước theo. Tôi biết, trong ánh mắt đó, cả T và H đều cầu mong cho tôi may mắn thoát nạn.



Tên Long thấy vậy đành thở dài bất lực, bước nhanh về phía trước. Như vậy là đội hình của chúng tôi bây giờ thay đổi, Long đi đầu, rồi đến tôi, H, T, và tên Vân đi sau cùng.



Thái độ ngang ngạnh của tên Vân không ngờ đã giúp tôi vượt qua được một chướng ngại vô cùng to lớn trên đường tẩu thoát:Chiếc còng tay! Nhưng tôi biết, khi bỗng dưng có quyết định tháo còng cho tôi, tên Vân đã ít nhiều bị lời khuyên của chị Ba ảnh hưởng, cùng lòng trắc ẩn mà y đã bị chị Bà và những người trên xe cảm hoá.



Thêm vào đó, thấy thái độ ngoan ngoãn đến ngốc nghếch của tôi, tên Vân cũng chủ quan tin tưởng, tôi sẽ không khi nào dám trốn chạy.



Bây giờ thảnh thơi, tay không bị còng, bị trói, tôi thấy thoải mái và tự tin vô cùng. Nhìn lại tất cả những gì đã xảy ra từ sáng sớm đến giờ, tôi thấy mình thật may mắn. Hình ảnh của chị Ba lại xuất hiện trong tâm trí, với nụ cười phúc hậu, ánh mắt khuyến khích, khiến tôi thêm tự tin. Tôi hỏi tên Long công an:



- Thưa cán bộ, mình sắp đến nơi chưa?



Tên Long trả lời cụt ngủn:



- Sắp!



Tôi nhìn về phía trước, không thấy bất cứ dấu hiệu gì cho thấy có một lao khám. Tôi nhớ khi còn ở trại giam Đông Hà, ông HK đã nói cho tôi biết, lao Thừa Phủ là một tòa nhà hình bác giác, do Nhật xây nên rất lớn, ở xa đã trông thấy. Thận trọng và kín đáo quan sát dọc con đường, tôi không thấy một con hẻm. Như vậy rất khó cho tôi chạy trốn. Với hai tên công an đều có súng, và nhất là khả năng thiện xạ bắn trúng cả sóc khi đang chạy của tên Vân, tôi biết, nếu chạy trốn, tôi sẽ chín phần chết, một phần sống. Vì vậy, tôi chỉ hy vọng vào hai yếu tố, thứ nhất là bất ngờ và thứ hai là ngay khi chạy, tôi phải lao ngay vào một con hẻm. Khả năng bất ngờ chạy vào nhà dân, rồi được dân cưu mang, giúp đỡ giống như ngày nào ở Phú Nhuận là điều rất khó…



Chúng tôi đi như vậy được khoảng 15 phút, thì tới một ngã ba. Nhìn sang bên trái, tôi thấy cách ngã ba không xa có một con hẻm bên tay trái. Tôi bồn chồn, tính chạy, nhưng thấy vị trí của mình ở phía trước cả T, H và tên Vân, nếu chạy, tôi sẽ bị tên Vân chặn lại ngay. Đang dùng dằng chưa biết tính sao thì bỗng nhiên tên Long quẹo vô tay phải. Bước theo tên Long, tôi thấy một con đường lớn, thẳng tắp hiện ra trước mắt. Tên Long dơ tay chỉ thẳng về phía trước và nói:



- Lao Thừa Phủ đó!….



Tôi giật mình nhìn. Quả nhiên ở phía cuối đường, cách khoảng vài trăm thước, tôi thấy hai cánh cổng lớn của nhà giam. Hai bên đường, lác đác có nhiều bóng công an, bộ đội đi lại. Và ngay phía bên phải có một quán nước. Chợt nghĩ ra một kế, tôi vội vàng dừng bước, tay ôm bụng, quặn gập người rồi ho lấy ho để. T, H và tên Vân thấy vậy liền đứng lại. Long quay lại nhìn tôi, gằn giọng:



- Anh này lại muốn dở quẻ phải không?



Tôi vẫn tiếp tục ho. Long quát to:



- Anh có đi không thì bảo?!



Tôi thều thào:



- Cán bộ cho tôi uống chút nước. Tôi rát cổ quá…



Long bực tức, văng tục:



- Mẹ… Ăn uống gì ở đây? Đi cố lên, vào trong “đó” thì uống! Sắp đến nơi rồi còn gì.



Tôi liều mạng, vứt ngay chiếc ba lô xuống đất, tiếp tục gập người lại mà ho. Tên Vân có vẻ thương hại, đứng nhìn tôi một lúc rồi nói với tên Long:



- Thôi cho họ ghé vô quán uống nước đi…



Tên Long quát giọng dứt khoát:



- Mẹ… không ăn uống gì ở đây hết. Giao tù rồi, tao còn phải đi…



Tên Vân bỗng dưng cũng trở nên ương bướng không kém. Y gằn giọng:



- Mẹ… máy đi đâu cứ đi. Tao bảo cho chúng nó vô quán uống nước là vô uống, nghe chưa!



Tên Long gầm lên:



- Mẹ… thằng “Nùng con”. Mày muốn chơi cha tao hả?!



Vân chưa kịp trả lời thì ngay lúc đó, từ bên kia đường có tiếng gọi lớn:



- Ê, Long, Long!…



Long quay lại, rồi reo to:



- X (tôi không nhớ tên) phải không? Sao mày lại ở đây?



Nói chưa dứt câu, Long chạy băng qua bên kia đường. Hai tên Long và X ôm chầm lấy nhau rồi nhảy tưng tưng, rất vui vẻ. Sau đó, Long quay về phía chúng tôi nói lớn với Vân:



- Vân, mày cho họ vô quán uống nước. Tao nói chuyện với bạn tao một lúc rồi đi…



Vân gật đầu không nói gì, chỉ vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi ghé vô quán nước ngay bên đường. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Thật đúng là ơn trên phù hộ, tôi không những được ghé vô quán uống nước, mà còn may mắn đẩy được tên Long công an…. cách xa tôi hơn hai chục thước. Bây giờ chỉ còn có tên Vân, tôi sẽ bất ngờ loại bỏ hắn trước khi chạy trốn. Điều này đối với tôi không khó. Tôi biết, thông thường, những quán nước ở Huế đều bán nước trà xanh. Tôi tính, khi vô quán uống nước, tôi sẽ gọi mấy chén nước trà xanh nóng bỏng. Sau đó, tôi giả vờ lễ phép, bưng một chén cho tên Vân, rồi xuất kỳ bất ý, hắt chén trà nóng vô mặt y, trước khi tôi bỏ chạy….



KỲ 76



Tôi tin tưởng, với chiều cao thước bảy, đôi giầy Bata thể thao, cùng sự bất ngờ và quyết tâm chạy trốn bằng mọi giá, tôi sẽ bỏ xa tên Vân công an, chỉ cao khoảng thước rưỡi, lại đi đôi dép nhựa Hải Phòng. Tin như vậy nhưng điều khiến tôi lo ngại nhất là tài bắn súng của Vân. Nhưng tôi hy vọng, trước khi tên Vân kịp rút súng, tôi đã kịp quẹo phải ở ngã ba. Đến khi y có thể nhắm bắn tôi thì tôi đã bỏ hắn một quãng đủ xa vài chục thước, rồi tôi sẽ quẹo trái vô con hẻm tôi vừa trông thấy lúc trước. Tôi không biết, con hẻm đó dài ngắn như thế nào, có an toàn cho tôi không, nhưng một khi đã quẹo vô đó, tôi sẽ nhào vô bất kỳ nhà ai ở ngay đầu hẻm để ẩn nấp. Và nếu thuận lợi, tôi sẽ trốn ngay sang những nhà hàng xóm kế cận…



Để thuận tiện cho việc trốn chạy, việc đầu tiên phải làm là vứt ngay chiếc ba lô trên vai xuống, rồi kéo vạt áo lau mồ hôi, tôi kín đáo quan sát. Lúc đó, tên Vân đứng nhìn sang bên kia đường, nơi tên Long đang tán gẫu với bạn. Thái độ của tên Vân rất thờ ơ, không mảy may quan tâm đến chúng tôi.



Tôi hỏi Vân:



- Thưa cán bộ đưa tiền để tôi mua nước uống.



Tên Vân móc túi lấy tiền đưa cho tôi. Nét mặt của y vẫn dửng dưng, không chút đề phòng. Tôi kín đáo nhìn, thấy bao súng ngắn của y vẫn đóng kín, cài nút. Như vậy, khi tôi chạy, nếu y có rút súng bắn, cũng phải chậm mất vài giây. Vài giây tuy ngắn ngủi, nhưng trong lúc thập phần nguy hiểm, chúng có thể cứu tôi thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.



Tôi bước vô quán nước. Quán vắng không có một ai. Chủ quán là một thiếu phụ tuổi ngoài 40, nét mặt phúc hậu, có mái tóc đen, dầy, quấn thành lọn sau gáy, và cặp mắt đen láy, dưới cặp lông mày cong tuyệt đẹp. Trên chiếc bàn bằng gỗ cao khoảng nửa thước có mấy nải chuối, ít trái cây, mấy lọ thuỷ tinh đựng các loại bánh kẹo, thuốc lá…. Phía góc bàn có mấy chén nước trà xanh rót sẵn, để nguội. Quanh bàn có hai chiếc ghế dài, bằng gỗ và mấy chiếc ghế nhỏ, đóng ghép sơ sài.



Tôi chào chị và nói:



- Chị cho tôi hai chén nước trà nóng…



Chị chủ quán nhìn tôi, ánh mắt tò mò, rồi đưa tay chỉ mấy chén nước trà rót sẵn và nói, giọng thản nhiên:



- Có nước trà rót sẵn để nguội, chú uống cho mát. Uống trà nóng làm gì mất công chờ…



Tôi mỉm cười nói:



- Cảm ơn chị, xin chị chén trà nguội uống cho mát. Nhưng chị cứ cho tôi xin hai chén trà THIỆT NÓNG đi.



Nói xong, tôi đưa tiền cho chị, rồi cầm chén nước trà rót sẵn để nguội, uống một hơi khoan khoái. Chị nhìn tôi, mắt mở to có vẻ ngạc nhiên, khó hiểu nhưng không nói gì. Chị lặng lẽ lấy hai cái chén lật ngửa để trên bàn, rồi rót đầy nước trà nóng hổi. Nhìn mấy chén nước trà nóng, khói bốc nghi ngút, không hiểu sao lúc đó tôi vừa mừng lại vừa ngại ngùng. Mừng vì tôi nghĩ, với nước trà nóng hổi như vậy mà hắt vào mặt tên Vân, chắc chắn tên Vân sẽ tối tăm mặt mũi, và phải mất vài phút đồng hồ y mới có thể mở được mắt mà đối phó. Khi đó, tôi đã cao chạy xa bay, và y sẽ vô phương tìm kiếm. Nhưng nhìn chén nước trà nóng hổi như vậy tôi cũng ngại ngùng, không muốn hắt ly nước trà nóng vô mặt Vân. Dù sao, trên suốt chặng đường từ Đông Hà về Huế, y cũng đã giúp đỡ chúng tôi, và tỏ ra khá dễ dàng đối với tôi…



Trong tâm trạng bối rối, giằng co như vậy, tôi lặng lẽ hai tay bưng hai chén nước trà nóng hổi bước chậm rãi về phía tên Vân. Lúc đó, Vân lưng vẫn đeo ba lông, đứng nhìn về phía Long ở bên kia đường. Bước đến sát Vân, tôi lễ phép:



- Mời cán bộ uống nước.



Vân không thèm nhìn tôi, trả lời cộc lốc:



- Tôi không uống.



Tôi hít một hơi thở thật sâu, hai ta dâng cao hai chén nước trà nóng, tính hắt cả hai vô mặt Vân, nhưng rồi tôi lại do dự, không nỡ…. Ngay lúc ấy, bỗng nhiên tên Vân hình như linh cảm thấy điều gì không ổn, y quay phắt lại nhìn tôi, cặp mắt mở lớn… Lúc đó, cặp mắt của y chỉ cách hai chén nước trà nóng tôi đang cầm trong tay có hơn gang tay…. Tôi hoảng hốt, bối rối… và trong một phần mười của tích tắc đồng hồ phân vân và do dự, chẳng hiểu sao, tôi vội thả rơi hai chén nước trà nóng xuống đất rồi quay đầu bỏ chạy thục mạng…



Cả người tôi lúc đó vọt thẳng về phía trước bằng tất cả sức mạnh trong người, giống như một mũi tên vừa rời khỏi cánh cung. Đôi giầy Bata thể thao được ông HK buộc giây chặt chẽ, kỹ lưỡng, như dính chặt lấy chân, nên tôi chạy thật ngon lành, chân không bén đất… Phải đến mấy giây đồng hồ sau, tôi mới nghe thấy tiếng hô ú ớ của tên Vân:



- Đứ… ứ… ứng lạ… ại!



Thì ra, tên Vân lúc đó phần hoảng hốt, phần y là người miền núi, nói tiếng Việt không sõi khi bất ngờ, nên lúng túng, hô không rõ tiếng. Nhưng tên Vân chỉ lúng túng khi nói. Trái lại, khi hành động, y đã làm nhanh hơn tôi tưởng. Tôi cứ nghĩ tôi sẽ kịp quẹo vô ngã ba trước khi y kịp rút súng bắn. Không ngờ, ngay sau tiếng hô ấp úng, “Đứng lại!” tôi đã nghe ba tiếng súng “Đoàng! Đoàng! Đoàng!” vang lên trong không gian. Kèm theo tiếng súng là tiếng rú nghẹn ngào của H, cháu gái tôi! Từ đó cho đến nay, đã gần 30 năm trôi qua, nhưng mỗi khi nhớ lại tiếng rú của H vào buổi chiều hôm đó, tôi vẫn có cảm tưởng như H đang rú lên khi bị ai bóp cổ!…



Không biết lúc đó, Vân bắn chỉ thiên hay nhắm bắn tôi, nhưng tôi thấy mình không hề bị trúng đạn, cũng không hề nghe thấy tiếng đạn xé gió. Có lẽ khi rút súng bắn, tên Vân đã không bắn tôi vì y nghĩ đến “ông cậu Nguyễn Hữu X trưởng ty công an nhân dân tỉnh Quảng Trị” mà tôi đã bịa đặt, hoặc y nghĩ tôi còn con nít, hoặc y nghĩ đến hai chén nước trà nóng tôi đã không tạt vô mặt y. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không biết lý do nào đúng, chỉ biết lúc đó, ngay khi nghe tiếng súng, tôi vội vàng chạy theo chữ chi để tránh đạn…



Ba tiếng súng vừa dứt, tôi cũng nghe nhiều tiếng la hét nổi lên ở phía sau. Tuy không biết những ai la hét, tôi biết chắc đó là những người đang đuổi theo săn bắt tôi. Nghe tiếng súng nổ, tiếng la hét, những người đi hai bên đường đều vội vàng tìm chỗ ẩn nấp, né tránh. Nhờ vậy, tôi chạy càng dễ dàng. Dù không ngoái nhìn lại phía sau, chỉ nghe tiếng chân chạy, tiếng la hét, tôi biết, tên Vân, Long và có thể vài tên công an khác đang đuổi tôi phía sau.



Sự việc lúc đó nói thì lâu, nhưng xảy ra nhanh chóng vô cùng. Trong chớp mắt, tôi đã lao đến ngã ba có con đường bên tay trái. Tôi vội quẹo vô, và trong một tích tắc ngắn ngủi, tôi vội nhìn về phía bên trái thì thấy tên Long chỉ còn cách tôi khoảng 50 thước, tay vung vẩy khẩu súng. Phía sau là Vân và một tên công an áo vàng khác, có lẽ là bạn của Long. Ngay lúc đó, hai tiếng súng vang lên. Lần này, tôi nghe tiếng đạn xé gió bên tai. Tôi biết, tên Long đã bắn tôi! May mắn, tôi không trúng đạn, và may mắn hơn, tôi cũng đã lọt vô bên trong một con hẻm… Tôi biết, với khoảng cách 50 mét ngắn ngủi, tên Long sẽ theo sát tôi trong tích tắc, và khi đó tôi sẽ vô phương tháo chạy. Vì vậy, bằng mọi cách, lọt vô con hẻm rồi, tôi phải tìm cách biến khỏi con hẻm, trước khi tên Long quẹo vô.



Hiểu như vậy, nên mới chạy được khoảng chục thước, trông thấy ngay bên trái có cái ngõ đầu tiên dẫn vô một nhà dân, lập tức tôi quẹo vô, chạy thẳng vô trong. Nhìn thoáng qua tôi không thấy một chỗ ẩn nấp. Căn nhà chạy ngang, có nhiều cửa, nhưng đều đóng im ỉm. Tôi không biết những cánh cửa đó có khoá không, nhưng trong lúc này, chạy đến gõ cửa, chờ cửa mở là điều vô cùng nguy hiểm. Đó là chưa kể, chủ nhà từ chối không chứa chấp, hoặc hô hoán lên, thì càng nguy hiểm. Vì vậy, khi thấy trước mặt có căn nhà tựa nhà kho, hai cánh cửa nửa khép nửa mở, tôi vội đẩy cửa, bước vô. Thì ra đó là một căn bếp, tro tàn nguội lạnh, không có một ai. Bếp lợp ngói, ba phía là tường cao kín mít, ngoại trừ vài lỗ thông hơi nhỏ, lối vô duy nhất vô bếp là hai cánh cửa bằng gỗ đã mục nát ở phía trước mà tôi vừa bước qua.



Tôi thở hổn hển, vội vàng khép cánh cửa lại, nhưng không dám cài then vì sợ động. Lúc đó tôi rất kinh hoàng, vì không ngờ mình lại chạy vào ngõ cụt. Nếu tên Long, tên Vân nhìn vô cái ngõ này, lập tức chúng sẽ phát hiện ra ngay căn bếp khép hờ. Khi đó chúng bước vô và tôi sẽ hết đường chạy trốn… Nghĩ đến đó, tôi run bắn cả người…



Nhìn quanh, thấy trong bếp bên cạnh đống soong chảo, nồi niêu, và ít củi để cạnh đám rơm rạ, có một thanh sắt dẹt, dài khoảng sải tay, chiều ngang 5 phân, dầy khoảng hơn phân, dùng để cời bếp. Mừng quá, tôi vội chộp lấy thanh sắt, rồi vừa thở hổn hển, vừa đứng thủ thế ngay cạnh cánh cửa bếp. Trong hoàn cảnh lúc đó, tôi thấy mình chỉ còn có một con đường là liều mạng chống cự để sống còn. Nếu tên Long, tên Vân hay bất cứ tên công an, bộ đội nào đẩy cánh cửa bếp bước vô, tôi quyết dùng thanh sắt để tự vệ bằng mọi giá.



Đứng trong bếp, tôi vẫn nghe thấy tiếng hò hét huyên náo ầm ĩ ngay phía ngoài đường. Thở hổn hổn một hồi, thấy đỡ mệt, nhưng tôi vẫn hoảng hốt, vì thấy mình trốn trong một căn bếp, ở ngõ cụt như thế này thì sẽ bị bắt bất cứ lúc nào. Mấy tên công an ở ngoài sẽ báo động tù trốn. Lao Thừa Phủ ở cạnh, chúng sẽ kéo thêm công ăn, bộ đội, rồi chúng sẽ kết hợp với công an phường, khóm, mở các cuộc bố ráp trong khu vực này. Như vậy, không sớm thì muộn tôi sẽ bị bắt, bị đánh đập, tra tấn cho đến chết. Nghĩ đến đó, tôi thấy tôi không thể mãi cố thủ ở trong căn bếp này, mà phải tìm cách thoát khỏi căn bếp trước khi chúng mở cuộc bố ráp.



Nghĩ vậy, tôi vội cúi nhìn qua kẽ nứt của cánh cửa bếp thì thấy, phía ngoài đường tuy có tiếng la hét, nhưng không thấy có người nào qua lại. Nhìn sang bên trái, tôi thấy có bức tường gạch cao khoảng hai thước rưỡi, còn bên phải là một sân cỏ rộng, cách biệt với đường phố bên ngoài bằng một bức tường gạch, cao khoảng thước rưỡi.



Chờ đợi khoảng một phút, thấy bên ngoài tiếng la hét giảm dần, quang cảnh ngoài đường cũng vắng vẻ, tôi liền từ từ mở nhẹ một bên cửa, rồi vội lách mình ra ngoài. Nhìn vào chân tường ngay cạnh bếp, tôi thấy có một bể nước nhỏ. Tôi vội nhún người nhảy lên bể nước, rồi vung hai tay bám vào một cành cây to cỡ cổ chân. Bằng một động tác “hít xà đơn” quen thuộc, tôi tung hai chân lên cao, rồi nhẹ nhàng rút hai cánh tay. Lập tức cả người tôi thăng bằng trên cành cây, êm ái không một tiếng động. Từ cành cây, tôi bám hai tay vào tường gạch, rồi nhoài người qua. Trong chớp mắt, cả người tôi đã nằm gọn trên bức tường gạch. Từ vị trí trên cao này, tôi vội nhìn ra ngoài đường và giật mình kinh hoàng. Thì ra tên Long vẫn còn đang đứng ở ngoài đường, một tay cầm khẩu súng ngắn dơ cao, đầu thì hết ngoái bên trái lại ngoái bên phải, miệng không ngớt hò hét. May mắn cho tôi, lúc đó tên Long quay lưng về phía tôi, mặt nhìn về phía bên kia đường, nên y không thấy tôi phía đằng sau. Bằng không, tôi đã bị y phát hiện, và trong hoàn cảnh đó, tôi vô phương trốn thoát.



Hú vía, tôi vội vàng hai tay bám chặt lấy mép tường, rồi khẽ nghiêng người về bên kia tường, để cho người rơi xuống thật nhẹ nhàng. Chạy dọc theo bức tường gạch khoảng hai chục thước, tôi đụng phải một hàng rào bằng dây kẽm gai cao khoảng ba thước. Tôi không hiểu sao gia đình đó lại có hàng rào kẽm gai cao như vậy. Nhưng nhìn quanh, tôi mới thấy mấy hàng rào kẽm gai khác cũng cao tương tự. Lúc đó, tôi thấy, chạy về bên trái là không được vì tường gạch cao, chạy dài, không có chỗ bấu víu. Nếu chạy tiếp về bên phải thì không an toàn vì nhà đó cũng sát với con đường mà tên Long đang đứng. Tôi chỉ còn có con đường duy nhất là leo qua hàng rào kẽm gai trước mặt, chạy vô căn nhà phía sau căn nhà tôi vừa ẩn nấp, rồi tìm cách thoát ra một con đường nào đó ở phía trước nhà, cách xa con đường tên Long đang đứng.



Nghĩ vậy, tôi vội vàng bám dây thép gai leo như điên cuồng, bất chấp gai ngọn cào vào quần áo, đâm vào da thịt, máu chạy đầm đìa cả tay, chân, đùi, bụng, ngực… Tôi cũng không hiểu sao lúc đó, tuy bị dây thép gai đâm vô người, máu chảy tùm lum mà tôi không thấy đau đớn ghê gớm gì. Cũng may sân nhà hàng xóm bên cạnh có nhiều bụi cây, nên khi tôi trèo hàng rào kẽm gai, không ai để ý thấy.



Trong chớp mắt, tôi leo qua được hàng rào kẽm gai, thả người nhảy xuống mảnh vườn bên kia an toàn. Vừa đứng vững được hai chân trên mặt đất, quay người lại, tôi điếng người, rợn tóc gáy khi thấy một con chó becgie hồng hộc chạy tới. May mắn cho tôi, đó là loại chó becgie đã được chủ huấn luyện nên nó không hề sủa ầm ĩ. Bằng không, những tiếng sủa vang của nó sẽ khiến mấy tên công an ở ngoài đường nghe rõ mồn một, và biết ngay tôi đang ở đâu.



Trong tình thế lúc đó, tôi biết ngay, nếu tôi có những cử chỉ nhút nhát, sợ hãi, hay hoảng hốt bỏ chạy, tôi sẽ bị con chó becgie cắn không chết cũng trọng thương. Vả lại, nếu tôi bỏ chạy, chắc chắn nó sẽ sủa vang, và khi đó, tụi công an, bộ đội sẽ ào tới bao vây, bắt sống tôi. Hiểu như vậy, tôi thấy tôi chỉ còn mỗi một cách là cố tỏ ra thật bình tĩnh, thản nhiên, không sợ hãi, may ra con chó sẽ không sủa và không cắn.



Nghĩ vậy, tôi vội đứng thẳng, mắt nhìn thẳng vào mắt con chó, tay chỉ thẳng vào mặt nó, và miệng khẽ quát “Im!…” Khi nói tiếng “im” tôi cố gắng kéo dài, giọng nói rít lên, và giữ vẻ mặt thật thản nhiên, lạnh lùng. Nghe tiếng quát, con becgie đứng ngay lại, miệng khẽ rít lên, rồi phủ phục hai chân trước, nhưng nó vẫn nhe hàm răng trắng ởn, nhìn tôi giận dữ và gừ gừ trong cổ họng….



Tôi rất mừng. Ít nhất, tôi đã thắng được một bước. Nhưng nếu tôi vẫn đứng đó, duy trì thế thù nghịch như vậy, chắc chắn con chó sẽ leo thang, sẽ sủa vang gọi chủ, hoặc sẽ lao vào cắn tôi. Trường hợp nào thì tôi cũng gặp nguy hiểm. Vì vậy, tôi phải thực hiện bước phiêu lưu kế tiếp. Giả vờ không thèm để ý đến con chó, tôi thản nhiên bước tới phía con chó đang phủ phục, rồi bước ngang qua mõm của nó. Khi làm vậy, tôi chấp nhận rủi ro bị con chó cắn. Nhưng tôi đâu có cách nào khác! Thiệt may mắn cho tôi, con chó nằm yên, không cắn, không sủa. Không những thế, khi tôi đi qua, nó còn đứng dậy lẽo đẽo bước theo tôi…



KỲ 77



Thấy vẻ thuần phục của con chó becgie, tôi an tâm đi qua khu vườn rộng đủ loại cây cối um tùm rồi thẳng hướng tới nhà bếp, nằm vuông góc thước thợ với dẫy nhà chính. Tôi không biết, chủ nhà là ai, nhưng nhìn khu vườn rộng mênh mông, nhà ngang nhà dọc bề thế, tôi rất lo lắng. Kinh nghiệm đã cho tôi biết, sau 1975, những căn nhà to lớn, bề thế, đều bị cán bộ cộng sản cao cấp chiếm lấy làm của riêng, hoặc biến thành cơ sở của công quyền. Như vậy, với căn nhà bề thế như thế này, có lẽ số tôi sẽ lành ít dữ nhiều. Biết vậy, nhưng trong tình thế của mình lúc đó, nếu tôi dừng lại tỏ ý ngại ngùng hoặc bỏ chạy, con chó becgie sẽ không để tôi yên. Vì thế, tôi chỉ còn có con đường duy nhất là cố giữ thái độ bình tĩnh đi thẳng vô nhà bếp.



Bước vô trong bếp, tôi rất ngạc nhiên khi thấy giữa khu bếp rộng và dài, nối liền với khu nhà ngang bề thế, có khoảng một chục nam nữ học sinh tuổi 17, 18, đang đi lại tấp nập, nói chuyện huyên náo. Trong không khí tấp nập huyên náo đó, không một quan tâm khi thấy tôi bước vô. Quá kinh hoàng, mệt nhọc, lại thêm phần lúng túng không biết xử thế ra sao, tôi đành ngồi tạm xuống một chiếc ghế làm bằng khúc cây, miệng thở hổn hển…



Đang thở thì có một cậu học sinh bước tới lễ phép hỏi:



- Thưa chú, chú cho con hỏi, chúng con đang nấu cơm thì hết củi. Bây giờ lấy củi ở đâu hở chú?



Tôi ngớ người, ngạc nhiên và nghi ngại nhìn người học trò. Đó là cậu học trò trẻ măng, cặp mắt trong sáng, sự ngây thơ thật thà ngời ngời trên khuôn mặt. Tự nhiên, mọi nghi ngại lo sợ trong tôi biến mất. Tôi liền thật thà thú nhận:



- Chú không phải… là người ở nhà này, nên chú cũng như con…



Cậu học trò tròn mắt, ngạc nhiên:



- Ủa, chú không phải…



Nói đến đó, cậu học chợt nhìn thấy những vết máu trên bộ quần áo rách rưới vì kẽm gai cào của tôi. Cậu ấp úng lo sợ:



- Chú… chú là…



Tôi đưa ngón tay trỏ lên miệng làm dấu cho cậu im lặng, rồi hỏi nhỏ:



- Con không phải là người ở trong nhà này?



Cậu học sinh lễ phép:



- Thưa chú không. Chúng con là học sinh đến trọ học để thi vô sư phạm…



Thì ra là vậy! Hèn nào, mấy cô cậu học sinh trong bếp khi nhìn thấy tôi bước vô đều thản nhiên. Tôi an tâm, nói nhỏ với cậu học sinh:



- Bây giờ con lấy dùm chú một ly nước lạnh, rồi chú sẽ nhờ con một việc. Nhưng con đừng nói cho ai biết về chú nghe.



Cậu học sinh ngoan ngoãn gật đầu, đứng lên đi lấy nước. Mấy phút sau, cậu trở lại với ly nước trong vắt trên tay. Tôi cầm ly nước uống ừng ực. Nước vô đến đâu, tôi thấy mát ruột mát gan đến đó. Uống xong ly nước, tôi thấy mình tỉnh táo hẳn. Tôi đưa chiếc ly không cho cậu học sinh, và hỏi:



- Con có biết chủ nhà tên gì không?



Cậu học sinh lễ phép:



- Thưa chú, chủ nhà là ông X.



- Cảm ơn con. Bây giờ… con lên trên nhà mời ông X xuống đây cho chú nói chuyện.



Cậu học sinh nhìn tôi, vẻ mặt, ánh mắt chưa hết ngạc nhiên, nhưng vẫn ngoan ngoãn “dạ” một tiếng rồi đi lên nhà.



Cậu học sinh vừa đi khỏi, tôi cũng đứng dậy đi lại chỗ vòi nước trong bếp là nơi cậu học sinh lấy ly nước lạnh, tôi mở vòi lấy nước, lau qua mặt mũi, chân tay, cho sạch sẽ phần nào. Xong xuôi, tôi vừa trở lại chỗ ngồi thì cậu học sinh trở lại. Đi theo cậu là một người đàn ông tuổi chạc ngoài 50, nét mặt phúc hậu, da dẻ hồng hào, mặc bộ đồ bà ba màu mỡ gà, cử chỉ ung dung, đường bệ. Lạ lùng một điều, trông thấy tôi, ông không hề tỏ vẻ ngạc nhiên, ngỡ ngàng chút nào. Trái lại, ông tươi cười niềm nở bước tới vỗ vai tôi, và nói lớn, giọng sang sảng, thân quen, cứ như ông quen biết tôi từ lâu lắm:



- Ủa, chú mày về bao giờ vậy? Sao lâu quá chẳng nghe tin tức gì cả. Rồi rồi đi lên đây… làm ly cho ấm bụng rồi nói gì hãy nói…



Miệng nói, mắt nhay nháy, người đàn ông thản nhiên bá vai rồikéo tôi đi lên trên nhà. Thoạt đầu, tôi hơi ngỡ ngàng, tưởng người đàn ông nhận lầm tôi với người nào đó, họ hàng hoặc là đàn em của ông. Đến khi thấy ông nháy nháy mắt với tôi, tôi chợt hiểu, thì ra ông đã đóng kịch để che mắt những người chung quanh. Tuy ở đó lúc ấy chỉ có học sinh, nhưng sau 1975, thời thế đảo điên, ai ai cũng thận trọng, không dám tin một ai. Thôi thì ông ta có khôn ngoan, biết đề phòng như vậy cũng tốt. Có điều tôi vẫn ngạc nhiên, không hiểu vì sao ông lại có thái độ khôn ngoan cùng cái “nháy mắt mời gọi sự thông đồng” của tôi như vậy. Tuy băn khoăn không hiểu rõ, tôi vẫn lặng lẽ và ngượng ngùng để ông kéo đi…



Bước vào nhà trên, quang cảnh càng huyên náo, nhộn nhịp vì ở đây đông học sinh hơn. Mọi người đều không để ý đến tôi, trong khi ông kéo tôi vô một căn phòng, rồi nhẹ nhàng đóng cửa, cài chốt cẩn thận. Chỉ vô chiếc ghế duy nhất, ông đột ngột thay đổi cách xưng hô:



- Anh ngồi đó nghỉ chút, chờ tôi lấy cho anh bộ quần áo khác thay, chứ anh mặc bộ đồ rách rưới, máu me tùm lum đó ra đường, tụi nó thấy là biết liền à.



Tôi ngạc nhiên. Thì ra ông ta đã biết tôi là ai hay sao? Tôi đang lúng túng, không biết trò chuyện ra sao, thì ông đã mở cửa bước ra ngoài. Khoảng 5 phút sau, ông trở lại, trao cho tôi một bộ đồ màu xám đã bạc mầu rồi thong thả và nhẹ nhàng nói tiếp:



- Tôi nghe tiếng súng nổ ở mạn đó là biết ngay có chuyện… Đến khi trông thấy anh, ngay từ xa là tôi hiểu ngay… Thôi anh khỏi giải thích dài dòng làm gì. Bây giờ anh mặc tạm bộ đồ này vô. Tôi đã gọi xe ôm cho anh rồi. Họ sẽ đến ngay để chở anh ra ga. Ở ga đông người, anh dễ trà trộn, đi đâu cũng tiện. Còn ở đây, đông người bất tiện lắm. Vả lại, chúng đang lùng kiếm anh, nên chúng dám vô từng nhà ở khu này để xét sổ gia đình. Khi ấy thì nguy hiểm cho cả anh lẫn cả tụi tôi.



Nghe anh nói tôi rất khâm phục trí phán đoán và cách ứng xử nhanh chóng của anh. Tôi vội vã vừa thay đồ vừa hỏi anh:



- Chú có biết mấy giờ thì có chuyến tàu tốc hành từ Huế vô Sàigòn không?



Ông lắc đầu:



- Tôi không biết gì về giờ giấc tàu tốc hành. Nhưng anh đi tàu tốc hành làm gì, nguy hiểm lắm. Tàu tốc hành bao giờ cũng bị kiểm soát giấy tờ kỹ lắm. Tốt nhất anh nên đi tàu chợ vì tàu chợ tuy chậm, nhưng hành khách đông nghẹt à, rất khó cho họ kiểm soát. Hơn nữa, tàu chợ thường dừng ở các ga nhỏ, nên anh có thể lên xuống dễ dàng.



Tôi dụt dè:



- Tôi bây giờ không có giấy tờ gì trong người, sợ không vô được trong nhà ga để mua vé….



Ông cười bảo tôi:



- Anh mua vé làm gì cho tốn tiền. Còn chuyện vô ga qua cửa chính thì khó, chứ anh vô ga bằng cách đi dọc theo đường rầy thì chẳng ai để ý làm gì. Nhất là anh chẳng có hành lý gì, cứ thong thả mà đi…



Nghe ông nói, tôi mừng quá, nghĩ ra ngay. Đúng như ông nói, đường rầy nào mà chẳng dẫn đến một nhà ga. Và trong hoàn cảnh của Việt Nam lúc đó, công an, bộ đội, nhân viên soát vé dù có đông đúc mấy đi nữa cũng chỉ có thể kiểm soát được khu vực chung quanh nhà ga, chứ không thể kiểm soát hết cả đường rầy. Vì vậy tôi chỉ cần kiếm một đoạn đường rầy nào thích hợp, cách nhà ga không xa, rồi đi dọc theo đường rầy là vô được nhà ga dễ dàng.



Tôi vừa nghĩ đến đó thì có tiếng gõ cửa. Ông X mở cửa, thì thầm với ai đó ở bên ngoài, rồi quay lại bảo tôi:



- Xe ôm tới rồi, chú em…



Tôi vội vàng đứng dậy, lúng túng và cảm động:



- Con cảm ơn chú… đã giúp đỡ con trong lúc hoạn nạn…



Ông đặt hai bàn tay lên vai tôi, thân mật nói:



- Thời thế đảo điên thì người tốt phải gặp cơn hoạn nạn. Nhưng trông chú mày tao thấy hậu vận không đến nỗi nào. Hung hiểm dù có thế nào tao dám chắc chú mày cũng qua khỏi. Thôi đi nghe!



Nói đến đó, ông dúi vào tay tôi ít tiền, rồi nói:



- Chú mày cầm lấy chút tiền tiêu… Cái này tuy chẳng nhiều, nhưng cũng đủ tiền cho chú mày đi tàu đi xe và ăn uống dọc đường. Bây giờ, tôi mở cửa, chú mày cứ tự nhiên đi thẳng ra ngoài cổng, đừng chào hỏi bất cứ ai. Ngoài đó, xe ôm đã chờ sẵn. Chú cứ bảo họ chở chú thẳng ra ga Huế. Thôi chúc chú bình an.



Tôi cảm động, xiết chặt bàn tay của ông một lần nữa trước khi bước ra ngoài.



Nghe lời ông, tôi thản nhiên đi thẳng ra cổng. Tôi hiểu, ông không đi cùng tôi ra cổng là để giữ mọi chuyện kín đáo, hàng xóm láng giềng khỏi nhìn thấy ông đi cùng với tôi, một người lạ mặt đang bị truy lùng. Trong hoàn cảnh đất nước bị cộng sản chiếm đóng từ sau 1975, sự cẩn thận của ông quả thật vô cùng cần thiết.



Bước ra ngoài đường, tôi khoan khoái hít một hơi thở thật sâu, trước khi thấy người tài xế xe ôm. Anh tài xế trông còn rất trẻ, khoảng 30 tuổi, nhưng nước da ngăm đen, râu ria xồmn xoàm, trông rất oai phong. Anh nhìn tôi, ánh mắt có vẻ tò mò nhưng không nói gì. Có lẽ bộ quần áo tôi mặc rộng thùng thình, trông không giống ai, nên anh để ý chăng? Tảng lờ trước ánh mắt tò mò của anh, tôi giữ vẻ mặt thản nhiên và nói:



- Anh cho tôi ra ga…



Khoảng 15 phút sau, tôi đặt chân đến nhà ga Huế. Lúc đó khoảng 3 giờ chiều. Đứng bên ngoài nhà ga kín đáo quan sát, tôi thấy trước cửa nhà ga ngoài nhân viên hoả xa, còn có cả bộ đội lẫn công an canh gác, đi lại thường xuyên. Hàn khách đi tàu chợ rất đông, đứng kín cả sân ga, phía trước phòng bán vé.



Nhớ lời dặn của ông X, tôi không vô mua vé, mà rẽ trái vô con đường chạy dọc theo đường rầy xe lửa. Đi được khoảng một cây số, tôi rẽ phải vô một con hẻm nhỏ. Đi tiếp khoảng trăm thước, gặp đường rầy cắt ngang, tôi rẽ phải, đi dọc theo đường rầy về phía nhà ga. Quả nhiên, không đầy 15 phút sau, tôi đi vô sân ga Huế. Lúc đó, sân ga rất đông và huyên náo, hành khách đi lại cùng khắp, chẳng ai để ý đến ai. Nhờ vậy, tôi vô sân ga một cách an toàn, và chỉ vài phút sau, tôi đã trà trộn dễ dàng vô đám đông mấy trăm hành khách đang chờ tàu chợ.



Ngồi trên sân ga, nhớ lại tất cả những gì đã trải qua trong ngày, tôi thấy mình thật may mắn. Nhờ ơn trên phù hộ, tôi từ một người tù tội đang trên đường bị giải giao tới lao Thừa Phủ, bỗng thoát cũi sổ lồng, được tự do, dù chỉ là tự do tạm. Nhìn những gương mặt héo hắt, lo âu, vất vả bươn chải để kiếm sống của những hành khách chung quanh, tôi thầm nghĩ, mình quả thật là người may mắn nhất, hạnh phúc nhất. Tôi không biết trong những ngày tháng tới, số phận của tôi sẽ như thế nào, nhưng với những may mắn đã trải qua, tôi thực tâm hy vọng, nếu tôi chịu khó bền bỉ trước sau như một, quyết tâm tìm cách vượt biên, chắc chắn tôi sẽ đến được bến bờ tự do.



Tôi lên chuyến tàu chợ Huế – Sàigòn vào khoảng 4 giờ chiều. Đúng như lời của ông X nói, tàu đông nghẹt những khách là khách, trong đó phần lớn là những đi buôn bán, với đủ thứ quang gánh, thúng mủng và các loại hàng hoá thể hiện rõ ràng đời sống nghèo túng của người dân Miền Nam sau cuộc đổi đời khốc liệt năm 1975.



Trên tàu, từ bên trong các toa đến các bậc lên xuống ở ngoài toa, từ trên các ghế ngồi đến các hành lang chật hẹp,… người ngồi, người nằm ngổn ngang, chồng chéo lên nhau tựa như nêm cối. Được ngồi trên tàu chợ, giữa những người dân lao động, tôi thấy thật yên tâm, vì trong tình cảnh như vậy, việc khám xét vé hay giấy tờ là điều vô cùng khó khăn. Nhưng đề phòng mọi chuyện bất chắc có thể xảy ra, tôi vẫn chọn ngồi ở phần nối giữa hai toa tàu. Ở đó, tôi có thể dễ dàng quan sát cả hai toa tàu cùng lúc. Một khi có bóng dáng công an, bộ đội hay nhân viên hoả xa đi lại xét giấy tờ hay xét vé, tôi đều có thể nhanh chóng phát hiện và kịp thời gian né tránh, bằng cách chui vô toilet hoặc leo lên nóc tàu.



Vì không mang theo bất cứ thứ hành lý đồ đạc nào, nên tôi di chuyển giữa các toa tàu thật dễ dàng nhanh chóng. Tôi cũng đã tính toán, trong trường hợp xấu nhất, chẳng may bị hỏi vé hay giấy tờ, tôi sẽ khai mình bị mất bóp. Khi đó, dù tin hay cho rằng tôi trốn vé, biện pháp duy nhất họ có thể đối phó là đuổi tôi xuống tàu khi tàu dừng lại ở một nhà ga nào đó. Trong trường hợp đó, nếu thuận tiện, khi tàu chuyển bánh, tôi sẽ bám vô một toa tàu khác, leo lên. Còn nếu xấu nhất, không thể leo trở lại kịp, tôi sẽ ở lại nhà ga, chờ chuyến tàu chợ kế, rồi leo lên, đi tiếp cuộc hành trình…



KỲ 78



Ngồi trên chuyến tàu chợ từ Huế về Sàigòn, tôi suy nghĩ, nếu mọi chuyện chót lọt, tàu sẽ đến Sàigòn vào lúc 2 giờ sáng, là giờ giới nghiêm. Như vậy tôi sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi di chuyển, nhất là trong hoàn cảnh lúc đó tôi không có một thứ giấy tờ nào trong người. Vì vậy, tôi quyết định phải xuống ga Biên Hoà, vì ở một nhà ga nhỏ vào lúc đêm khuya, chắc chắn không có chuyện canh gác, xét hỏi giấy tờ phiền phức như ga Sàigòn. Điều quan trọng nữa là tại Biên Hoà, tôi có gia đình bà chị ruột ở cách ga Biên Hoà không bao xa. Chị đã cùng gia đình di cư vô Nam năm 1954, định cư ở Biên Hoà, và cả anh chị lẫn các cháu đều rất yêu thương tôi. Tôi biết chắc, dù có gặp bất cứ khó khăn hay nguy hiểm đến thế nào, anh chị cũng sẵn sàng cưu mang, giúp đỡ tôi.



Tuy quyết định như vậy, tôi không biết rõ tàu có dừng lại tại nhà ga Biên Hoà hay không. Vì vậy, tôi hỏi một chị đi buôn hàng chuyến trên tàu mà tôi nghe mọi người gọi là chị Ba. Nghe tôi hỏi, chị Ba quay sang lay lay vai người đàn ông tuổi khoảng sáu mươi, mắt đang nhắm, không hiểu ngủ hay không, và hỏi:



- Anh Hai, anh Hai… Tàu này có dừng ở Biên Hoà không vậy?



Người đàn ông vẫn nhắm mắt, trả lời gọn lỏn:



- Không!



Chị Ba quay sang nhìn tôi, vẻ tò mò:



- Chú muốn xuống Biên Hoà?



Tôi thận trọng, nhưng thật thà:



- Dạ, tôi muốn ghé Biên Hoà thăm bà chị.



- Chú từ đâu vô vậy?



Tôi không dám nói dối:



- Dạ, thưa tôi từ Huế…



- Từ Huế? Sao xa xôi như vậy vô thăm chị mà chú không mang hành lý chi cả là thế nào?



Tôi lúng túng chưa biết trả lời sao thì ông Hai, mắt vẫn nhắm nghiền, hai tay khoanh trước ngực, lên tiếng:



- Cô Ba này kỳ cục thiệt. Cô là cái quái gì mà xía vô đời tư của người ta vậy?



Không hiểu ông Hai quan hệ với cô Ba thế nào, nhưng nghe ông nói, cô Ba chỉ “hứ” một tiếng rồi im lặng. Vậy là tôi thoát nạn khỏi phải trả lời câu hỏi hóc búa của cô.



Nhìn ông Hai, tôi muốn lên tiếng cảm ơn, nhưng không biết nói làm sao. Bỗng nhiên, ông Hai lại nói trổng, trong khi hai mắt vẫn nhắm, hai tay vẫn khoanh trước ngực:



- Tàu này không dừng ở ga Biên Hòa, nhưng qua đó tàu sẽ chạy chậm. Chú mày có gan thì cứ nhảy là được…



Tôi nhìn ông Hai ngạc nhiên. Ông vẫn nhắm mắt, hai tay khoanh trước ngực như người đang ngủ. Trong lòng thầm cảm ơn ông Hai, tôi đưa mắt nhìn ra bên ngoài, thấy cảnh vật bao trùm trong bóng đêm, và đoàn tàu đang vùn vụt lao nhanh với tốc độ khoảng 80 cây số giờ….



Khoảng 1 giờ đêm hôm đó, tàu chạy qua ga Biên Hòa. Tôi không biết khi đó, tàu đã chạy chậm lại bao nhiêu, nhưng tôi đã phải liều mạng nhảy, và may mắn, tôi chỉ bị sây sát qua loa ở hai bàn tay và hai đầu gối. Cả sân ga Biên Hòa vắng tanh, không một bóng người. Nhưng để an toàn, tôi không đi ra qua cổng chính của nhà ga, mà đi dọc theo đường rầy một đoạn gần cây số, rồi mới rẽ ra đường lộ, đi bộ tới nhà chị.



Khi mở cửa, trông thấy tôi đứng đó vào lúc hai giờ sáng, anh chị tôi vừa ngạc nhiên, mừng rỡ, vừa lo sợ, vội kéo ngay tôi vô trong nhà. Sau khi tắm rửa, thay quần áo, tôi vừa ăn mì gói vừa kể cho anh chị tôi nghe đoạn đường gian truân đầy nguy hiểm nhưng cũng vô cùng may mắn mà tôi đã trải qua. Nghe xong, anh rể tôi hỏi:



- Bây giờ cậu định thế nào?



Tôi thưa:



- Em định ở đây với anh chị một hai ngày cho lại sức. Sau đó em sẽ về Sàigòn tìm cách vượt biên tiếp. Bằng mọi giá, em phải đi khỏi Việt Nam. Hoàn cảnh của em, anh chị đã biết, nếu sống ở đây, không sớm thì muộn em cũng sẽ bị bắt, và khi đó là đời em tàn.



Chị tôi thở dài:



- Cậu may mắn sống sót được đến ngày hôm nay cũng là nhờ ơn bề trên phù hộ. Rồi vong linh tổ tiên, vong linh thầy lúc nào cũng ở bên cậu, giúp đỡ cậu. Thôi thì bây giờ, cậu đã sống sót về được đến đây, thì cứ ở đây với anh chị, có rau ăn rau, có cháo ăn cháo. Anh chị sống được là cậu sống được. Cậu đừng nghĩ đến chuyện vượt biên nữa. Nguy hiểm lắm. Thầy nhà mình chỉ có hai người con trai. Một người ở ngoài Bắc, còn trong này thì chỉ có mình cậu. Lỡ cậu có mệnh hệ nào, vợ con không có thì… anh chị có lỗi với thầy, với gia tộc, dòng họ…



Nói đến đó, chị tôi sụt sùi khóc. Tôi im lặng đau lòng, nhưng không dám nói rõ quyết tâm vượt biên bằng mọi giá của tôi, vì biết có nói ra cũng chỉ làm cho chị thêm đau lòng mà không giải quyết được chuyện gì. Nhưng anh rể của tôi thì hiểu biết và bộc trực, nên nghe chị tôi nói vậy, anh bực dọc nói với chị:



- Bà này chẳng biết cái gì cả. Bộ bà không nghe cậu ấy nói hay sao? Hoàn cảnh của cậu mà ở Việt Nam ngày nào thì nguy hiểm ngày ấy. Tụi nó mà bắt được thì cậu ấy không tử hình cũng tù mọt gông. Ở đó mà vợ với con…



Quay sang tôi, anh nói tiếp:



- Cậu cứ yên tâm ở đây với anh chị cho đến khi nào cậu thấy cần đi thì cậu đi. Hoàn cảnh của anh chị tuy nghèo, chẳng giúp được cậu những chuyện lớn lao, nhưng nuôi cậu rau cháo qua ngày là chuyện không có khó. Còn chuyện vượt biên, tôi thấy cậu vàng bạc không có, đi bằng tàu, bằng thuyền là chuyện rất khó. Vậy thì tại sao cậu không tính ra Bắc, rồi vượt biên bằng đường bộ ở mạn biên giới Việt Trung? Dù sao thì cậu cũng đã từng ở Miền Bắc mấy chục năm, đường xá quen thuộc, phong tục tập quán cũng rành, gì chứ chuyện trà trộn với cán bộ, bộ đội ở Miền Bắc để đi tới biên giới, đối với cậu đâu có khó…



Lời nói của anh tôi làm tôi nhớ đến câu khuyên nhủ tương tự của bố KL trước đây không lâu. Tôi thấy đúng, trong hoàn cảnh túng thiếu của tôi lúc bấy giờ, tôi không



thể nào có được cả chục cây vàng để mua được một chỗ trên tàu, dù là đi bán chính thức hay đi chui. Như vậy, tại sao tôi không trở về Miền Bắc, tìm cách vượt biên qua ngả biên giới Việt Trung ở Lạng Sơn hoặc Móng Cái?



Anh tôi hút một điếu thuốc lào, rồi tiếp:



- Dạo này tôi thấy nhà nước đang có chiến dịch xua đuổi người Hoa về nước nên người Hoa đi đàn đàn lũ lũ về Trung Quốc như nước chảy. Vậy tốt nhất, cậu nên học ít tiếng Hoa rồi trà trộn với người Hoa, vượt biên sang Trung Quốc…



Tôi do dự:



- Nhưng thưa anh, Trung Quốc hiện giờ cũng là cộng sản, giống hệt như Việt cộng. Em sợ, nếu em vượt biên sang đó, nhà cầm quyền Trung Cộng bắt được, sẽ cho Việt cộng dẫn độ em về Việt Nam trị tội…



Anh tôi gật gù nói:



- Cậu nói vậy nghe cũng có lý chứ không phải không. Nhưng cậu phải hiểu, hiện nay, Việt cộng với Trung cộng không ưa nhau. Cứ tình thế này, hai nước sẽ coi nhau như kẻ thù không đợi trời chung cho cậu coi. Bây giờ trên đài phát thanh, có ngày nào mà Việt cộng không chửi Trung cộng bá quyền đâu. Tôi e rằng tình thế này sẽ có ngày chúng đánh nhau to là đằng khác…



Chị tôi đứng dậy:



- Ông thì tối ngày chỉ mong cho hai nước đánh nhau. Thôi ông để cho cậu ấy đi nghỉ đi. Trời gần sáng rồi. Có gì ngày mai hai anh em bàn tiếp…



Anh tôi im lặng không nói gì thêm, nhưng vẫn ngồi đó, bất động. Tôi xin phép anh chị vô giường nằm. Tưởng rằng, trải qua không biết bao nhiêu là mệt nhọc và kinh hoàng, nằm xuống, tôi sẽ ngủ ngay, nhưng tôi vẫn trằn trọc không ngủ vì trong đầu đầy ắp những ý tưởng về một chuyến vượt biên qua ngả biên giới Việt Trung. Thú thực, cho đến lúc đó, tôi không hề nghĩ tới chuyện vượt biên qua ngả Miền Bắc. Có lẽ cuộc sống thoải mái ở Miền Nam, cùng tấm lòng đôn hậu và thái độ không ưa cộng sản của hầu hết người dân Miền Nam đã khiến tôi dễ dàng có tâm lý chỉ tìm đường vượt biên qua các ngả ở Miền Nam. Nay qua lời khuyên của anh rể, tôi thấy tôi có cơ hội thành công hơn nếu tôi chọn con đường vượt biên qua ngả biên giới Việt Trung.



Đã từng sống ở Miền Bắc hai chục năm, tôi tin tưởng, mình sẽ dễ dàng trà trộn với người Hoa để đến Lạng Sơn, hoặc Móng Cái, là hai thị trấn giáp với Trung Hoa. Một khi đến được hai thị trấn này, tôi sẽ cắt đường, xuyên rừng rậm ở Lạng Sơn, hoặc bơi qua sông Ka Long để sang đất Trung Quốc. Điều khiến tôi lo ngại nhất là, trong hoàn cảnh hai chế độ Trung cộng và Việt cộng đang ở thế thù nghịch, nếu tôi sang được đất Trung Quốc, tôi có thể bị nghi ngờ là gián điệp của Việt cộng. Nhất là khi tôi không biết tiếng Hoa, cũng không phải là người Hoa, thì càng dễ bị Trung cộng nghi ngờ. Nhưng thực tế này cũng là một lợi điểm, giúp tôi thuyết phục nhà đương cục Trung Cộng tin tưởng, tôi chỉ là một người Việt tỵ nạn cộng sản thuần tuý. Chắc chắn, họ cũng phải biết, Việt cộng không bao giờ gửi một gián điệp sang Trung Quốc khi gián điệp đó không phải là người Hoa lại không biết tiếng Hoa. Vả lại, tôi tin tưởng, khi đến Trung Quốc, thân nhân và bằng hữu của tôi ở hải ngoại sẽ có đủ bằng cớ để chứng minh tôi là một người tỵ nạn cộng sản.



Vui mừng và hy vọng với chuyện vượt biên qua biên giới Việt Trung, ngay chiều hôm đó, khi tỉnh giấc sau một giấc ngủ dài, tôi vội vàng từ biệt anh chị, đáp chuyến tàu chợ trở lại Sàigòn.



Ngay khi đặt chân đến Sàigòn, tôi vội vàng báo tin cho chị tôi biết, hoàn cảnh tù đầy của cháu BH và T, để chị lo thăm nuôi và chạy chọt. Sau đó, tôi lấy những giấy tờ giả mà tôi đã giấu trước khi đi vượt biên. Với những giấy tờ giả đó cùng số tiền ít ỏi của một người bạn đã rút hụi trao cho, tôi vội vã lên đường ra Bắc.



Nhờ có kinh nghiệm an toàn về tàu chợ, nên tôi chọn tàu chợ đi kiểu sâu đo, từng chặng đường ngắn, từ Sàigòn ra Nha Trang, Vinh, Ninh Bình, Nam Định, Phủ Lý và cuối cùng là Hà Nội.



Nhờ đi tàu chợ nên tôi vừa không phải mua vé, vừa không bị xét hỏi giấy tờ. Cũng nhờ đi tàu chợ nên tôi có cơ hội được làm quen với rất nhiều người có tấm lòng vàng, đã bất chấp mọi nguy hiểm, liều mình giúp đỡ tôi bằng tất cả chân tình. Trong suốt ba chục năm qua, mỗi khi nghĩ tới những kỷ niệm của ngày đó, tôi đều bồi hồi xúc động, và nhận ra một sự thật, nếu không có những con người với tấm lòng vàng đó, chắc chắn tôi đã không sống sót để đến được bến bờ tự do. Trong những ngày tháng đất nước bị nghiêng ngửa giữa cơn hồng thuỷ cộng sản đó, tôi hoảng hốt trốn chạy trên những chặng đường dọc theo chiều dài của đất nước, đã có những người bỗng nhiên xuất hiện, giúp đỡ tôi trên một chuyến tàu, ở một bãi đậu xe, cạnh một nhà ga tỉnh lẻ… để rồi mãi mãi chia lìa cho đến ngày hôm nay. Bây giờ, khi ngồi viết những dòng chữ này, tôi phải đau lòng thú nhận, trong số những người đã giúp đỡ tôi trên đường tôi vượt biên, vẫn có những người tôi vĩnh viễn không bao giờ tìm thấy, thậm chí ngay cả tên của họ là gì, tôi cũng không biết. Nhưng dù cho biết hay không biết, tất cả những hình ảnh của họ, cùng với quê hương, lúc nào cũng ngự trị trong tâm trí tôi, mãi mãi trinh nguyên và thuỷ chung tròn trịa như mới được gặp hôm qua hôm kia…. Trải qua những ngày tháng dừng chân ở các thành phố, bỡ ngỡ khi đến để rồi bịn rịn lúc chia tay, tôi mới hiểu hết được ý nghĩa câu thơ, “Khi ta đến đất là nơi ta ở. Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”….



KỲ 79



Mùa thu năm 1978, tôi an toàn trở lại Hà Nội, sau thời gian hơn 3 năm xa cách. Lần trước, trở lại Hà Nội vào đầu tháng 5 năm 1975, lúc đó tôi vẫn đinh ninh thầy của tôi còn sống. Không ngờ thầy tôi đã mất trước đó một năm. Lần này trở lại Hà Nội, tôi chỉ còn có Mẹ, người thân yêu nhất của tôi, và cũng là người đã chịu đựng không biết bao nhiêu đau khổ vì tôi. Với thân phận của một thằng tù vượt ngục, đang bị truy lùng ráo riết và có thể bị bắt lại bất cứ lúc nào, tiền bạc lại không có, tôi biết, khi gặp lại tôi, Mẹ lại khóc. Biết vậy, nhưng ngoài Mẹ, tôi đâu biết nương tựa vào ai?



Để an toàn, tôi lang thang suốt cả buổi chiều hết khu công viên quanh hồ Bảy Mẫu đến hồ Ba Mẫu chờ đến tối mới dám về nhà Mẹ. Sau khi đi qua đi lại nhà Mẹ hai ba lần, thấy yên tĩnh tôi mới mở cổng thật nhẹ nhàng. Đi qua cửa sổ có rèm cửa, thấy đèn bên trong còn sáng, tôi nhìn vô, nhưng không thấy ai. Bước tới mấy bước, đến trước cửa, tôi gõ cửa thật nhẹ, theo đúng ám hiệu hai nhanh, một chậm, mà Mẹ tôi đã dặn ngày xưa. Vẫn không thấy tiếng trả lời, tôi gõ mạnh hơn. Cũng không có tiếng trả lời. Nhìn qua khe cửa, tôi thấy ngọn đèn điện vàng khè, tỏa ánh sáng yếu ớt trong căn nhà yên tĩnh, không một bóng người. Tôi đoán, có lẽ Mẹ tôi đi sang hàng xóm một chút rồi về, nên Mẹ tôi vẫn để đèn.



Với tay lên hốc cửa bên trên cửa, tôi sờ thấy ngay chiếc chìa khóa cửa. Như vậy là trong suốt bao nhiêu năm qua, Mẹ của tôi vẫn để chiếc chìa khóa cửa ở đó, trong niềm hy vọng, chờ đợi tôi và tin tưởng một ngày không xa, tôi sẽ về.



Tôi lấy chìa khóa, mở cửa, bước vô nhà, rồi khép cánh cửa lại. Nhìn đồ đạc trong nhà, tôi rưng rưng lệ. Vẫn những đồ đạc đơn sơ, mộc mạc, biểu hiện cuộc sống vô cùng nghèo khổ của Mẹ tôi.



Đói bụng, tôi vội lục nồi niêu xoong chảo nhưng không thấy một thứ gì có thể ăn được, tôi đành phải lấy gạo thổi cơm. Vừa đặt nồi cơm lên bếp, tôi nghe tiếng Mẹ tôi hỏi vọng từ ngoài cửa:



- Chí đó phải không?



Nghe tiếng Mẹ hỏi, tôi mừng quá, luống cuống thế nào làm đổ ụp cả nồi cơm còn đầy nước xuống bếp làm cho khói, bụi bốc lên mù mịt. Để mặc mọi thứ đó, tôi vội vàng chạy ra mở cửa. Mẹ tôi đứng đó run run, một tay Mẹ chống gậy, một tay cầm bó rau, không biết là rau gì. Tôi giật mình, vì trước đó, tôi chưa trông thấy Mẹ tôi chống gậy bao giờ.



Mẹ tôi thều thào:



- Đi về thấy cửa mở, Mẹ đoán ngay con đã về…



Tôi vội vàng dìu Mẹ vô nhà, rồi tiện tay, tôi đóng vội cánh cửa. Thấy bộ điệu vội vàng của tôi, Mẹ hiểu ngay, liền run run hỏi:



- Mày lại trốn tù nữa hả con?…



Tôi lúng túng, không biết nói sao. Mẹ tôi thở dài, ngồi phịch xuống giường. Tôi quỳ xuống đất, gục đầu vào lòng Mẹ, không nói, nhưng trong lòng tôi muôn phần đau đớn. Mẹ tôi đưa tay xoa đầu tôi, rồi nói trong tiếng khóc xụt xịt…



- Sao con về… mà khổ sở… thế này hở trời?…



Trong nỗi lo lắng, xót xa, buồn phiền của Mẹ, tôi thấy nát tan cả cõi lòng. Xụt xịt một hồi, Mẹ hỏi:



- Bây giờ con định thế nào?



Tôi ngước cặp mắt đẫm lệ nhìn Mẹ. Mẹ tôi vừa khóc vừa lau nước mắt cho tôi. Thấy Mẹ quá đau khổ, tôi vội trấn an:



- Mẹ yên tâm, con về với Mẹ trong vài ngày rồi con sẽ gặp anh bạn, anh sẽ lo cho con mọi chuyện để con đi thật an toàn.



Mẹ tôi không tin:



- Bạn của con? Bạn nào mà tốt vậy con?



Tôi nói dối cho Mẹ yên lòng:



- Anh ta tên là Hùng, bạn tù chung với con. Anh ra tù trước. Còn con, trốn ra sau.



Mẹ tôi vẫn nghi ngờ:



- Mà anh ta hiện ở đâu?



Tôi tiếp tục nói dối:



- Dạ, anh ấy hiện đang ở Lạng Sơn, gần sát biên giới Việt Trung. Chúng con định trốn sang Trung Cộng theo ngả Lạng Sơn…



Mẹ tôi run rẩy:



- Con sang Trung Cộng làm sao được. Hai nước sắp đánh nhau đến nơi rồi. Con sang đấy họ sẽ giết con mất.



Tôi chậm rãi, và thì thầm giải thích:



- Thưa Mẹ, con là tù vượt ngục, đang bị nhà cầm quyền Việt Nam truy lùng. Nếu con đến được Trung Quốc, ở đó họ sẽ không giết con đâu. Hai nước đang thù nghịch, nếu con chứng minh được con là nạn nhân của CSVN, thì Trung Quốc họ còn giúp đỡ con nữa.



Mẹ tôi băn khoăn:



- Nhưng làm sao con có thể chứng minh được? Mà con đâu có biết nói tiếng Hoa?



Tôi cười vui vẻ để Mẹ an tâm:



- Mẹ ạ, con không biết nói tiếng Hoa, nhưng ở vùng biên giới tiếp giáp Lạng Sơn, Móng Cái, Trung Cộng đang tiếp nhận mấy trăm ngàn người Hoa về nước, thì lúc nào họ chả có người Hoa biết nói tiếng Việt. Còn chuyện chứng minh con là nạn nhân của cộng sản thì đâu có khó, vì tất cả những chuyện đó đều là sự thật. Vả lại, gia đình mình có đông thân nhân ở ngoại quốc, rồi còn bạn bè của con nữa. Con sẽ liên lạc với tất cả những người đó, để họ chứng minh những gì con nói là đúng sự thật, con là nạn nhân của CSVN.



Tối hôm đó, hai Mẹ con chúng tôi tâm sự đến khuya trong niềm vui đoàn tụ lẫn nỗi buồn sắp chia ly. Thao thức trằn trọc không ngủ, tôi nhớ lại ngày xưa còn bé, có lần được ghé vùng biển Hải Hậu, Nam Định, nhìn những cánh buồm ở chân trời, tôi khao khát được đi xa, được đặt chân đến những vùng đất hoang lạ ở một nơi nào đó… Nhưng bây giờ, sau những năm tháng trôi dạt, trở lại căn nhà xưa có Mẹ già, tự dưng tôi thấy lòng mình trùng xuống trong muôn nỗi xót xa, và tôi chỉ muốn dừng chân, cắm bến, mãi mãi được sống bên cạnh Mẹ, dù cho có nghèo khổ, rau cháo qua ngày….



Vì tình hình an ninh ở Hà Nội lúc đó rất chặt chẽ, ở thêm ngày nào sẽ nguy hiểm ngày ấy, nên ngay sáng hôm sau, tôi đến nhà anh Z, ở ngay khu ga Hà Nội (trước là ga Hàng Cỏ), để anh giúp đỡ cách vượt biên giới Việt Trung. Nhà anh Z trước ở gần khu tập thể Văn Chương, cạnh hồ Linh Quang, sau đổi về ở gần Cung Văn Hóa hữu nghị, cách sở công an thành phố không xa.



Tôi biết anh Z qua lời giới thiệu của một người bạn trọ chung phòng ở Nam Định. Đó là một cuộc gặp gỡ tình cờ, nhưng không ngờ cuộc gặp gỡ đó lại quyết định cuộc đời của tôi. Nguyên do, trên đường từ Sàigòn ra Hà Nội, tôi đã xuống ga Nam Định và ở lại đó hai ngày hai đêm. Đêm đầu tiên vì trời quá khuya, không tiện tìm đến nhà người quen, nên tôi phải ngủ tại một nhà trọ bình dân, cách ga xe lửa không đầy 500 thước. Sau khi đưa giấy tờ cho nhân viên nhà trọ ghi tên tuổi, địa chỉ, tôi đóng tiền trọ, rồi theo chân một cậu bé tuổi khoảng 15, dắt đến một chiếc giường cũ kỹ, trên trải một chiếc chiếu đã ố vàng. Cả nhà trọ rộng khoảng 80 thước vuông, chiều ngang 6 mét, chiều dài hơn chục mét. Dọc theo nhà trọ là hai dẫy giường kê theo từng cặp liền nhau, cặp nọ cách cặp kia khoảng hơn thước. Khi tôi đến đã thấy có một người đàn ông nằm trên chiếc giường kê sát giường của tôi.



Thấy tôi, anh niềm nở ngồi dậy chào hỏi làm quen, thái độ rất chân tình. Anh cho biết tên là H., quê của anh ở Vụ Bản. Anh phải lên Nam Định xin giấy tờ của tỉnh để bán nhà từ đường. Vì nhà thuộc quyền sở hữu của người anh cả, nhưng anh cả đi bộ đội, chết ở chiến trường B (Miền Nam), nên chính quyền địa phương không chịu chấp thuận cho sang tên nhà đất.



Chuyện trò tâm tình với anh, tôi cũng tự giới thiệu tên tôi là Cường (như tên giả ghi trong giấy tờ), cán bộ nông lâm súc, trên đường ra Hà Tây công tác. Đang nói chuyện thì có công an khu phố đến điểm danh khách trọ. Y đọc to tên từng người có trong danh sách, và khi đọc đến tên ai, người khách trọ đó phải đứng dậy hô to, “có mặt”. Phần dùng tên giả chưa quen, chưa thực sự nhập vai, phần thấy màn điểm danh khách trọ cũng hay hay nên tôi lặng lẽ theo dõi với sự thích thú, quên cả việc hô “có mặt” khi người công an đọc to tên của tôi: “Nguyễn Văn Cường”. Thú thực, khi đó tôi có nghe người công an đọc tên, nhưng cứ đinh ninh “Nguyễn Văn Cường” là tên của người khác, đâu có biết đó là tên giả của mình.



Mãi đến khi người công an đọc tên tôi lần thứ ba, kèm theo số giường, anh H. mới nhìn tôi ngạc nhiên:



- Ủa, công an đọc tên anh, sao anh không lên tiếng?



Tôi giật mình, sực nhớ ra tên giả của mình, bèn hốt hoảng đứng dậy hô to: “Có mặt”. Tên công an đứng ở trên bậc thang lừ lừ nhìn tôi rồi quát một tiếng gọn lỏn:



- Điếc hả!



Tôi tính trả lời, nhưng nghĩ sao, tôi lại im lặng, chịu đựng. Dù sao mang tiếng “điếc” cũng còn hơn bị tên công an phát hiện ra mình dùng “tên giả”.



Tối hôm đó, anh H và tôi trò chuyện tới khuya. Nói đúng hơn, anh H nói nhiều, còn tôi thì chỉ nghe. Vì lạ nước lạ cái, gặp nhau trong quán trọ, cộng với hoàn cảnh của tôi lúc đó đâu có tiện cho tôi phơi bầy phế phủ với anh.



Sáng hôm sau, anh mời tôi đi ăn sáng. Tôi lưỡng lự rồi nhận lời. Anh H có vẻ thông thuộc đường phố Nam Định. Đi khoảng 10 phút, anh dẫn tôi vô một tiệm ăn vắng vẻ, chủ quán là một bà cụ, tuổi ngoài 60, trông có vẻ nghễnh ngãng. Chẳng cần hỏi ý kiến tôi, anh tự động gọi hai tô miến gà “có người lái”. Quay sang tôi anh giải thích:



- Ở đây chỉ có một món miến gà, nên tôi gọi luôn hai tô…



Bà cụ bưng ra hai tô miến gà lõng bõng nước, vài miếng thịt chặt nhỏ. Khi bà cụ đi xa, anh H. nhoài người, mặt anh dí vào mặt tôi, hỏi:



- Chú mày tên thật là gì?



Tôi lúng túng, ngạc nhiên và giật mình không biết trả lời sao. Anh mỉm cười thân thiện, và đột ngột thay đổi cách xưng hô:



- Tớ biết, tên của chú mày không phải là Cường?



Thấy anh như vậy, tôi đành phải thú nhận:



- Chẳng nói giấu gì anh, hoàn cảnh của tôi có nhiều chỗ éo le, khó nói, nên phải dùng tên giả…



Anh H xua xua tay:



- Khỏi nói, khỏi nói. Tối qua nhìn mặt chú mày là tớ biết. Chuyện gì đã khó nói, thì chú mày cứ giữ ở trong bụng. Còn chuyện gì khó khăn, muốn tớ giúp đỡ thì cứ nói. Tớ tuy nghèo kiết xác, tiền bạc không có, nhưng bằng hữu thì đông. Trước kia, tớ là dân buôn trâu bò, nên giao thiệp rộng, bạn bè tỉnh nào cũng có…



Sau một thoáng cân nhắc, tôi thú thực với anh H một phần cuộc đời của tôi và ý định vượt biên qua ngả biên giới Việt Trung. Nghe xong, anh cười lớn, sảng khoái:



- Chuyện gì cậu nhờ thì tớ còn phải suy nghĩ, chứ chuyện vượt biên qua ngả biên giới Việt Trung thì là nghề của tụi này. Cả đàn trâu mấy trăm con, tụi này còn đưa lậu từ Phòng Thành, qua Đông Hưng vô Móng Cái được, huống hồ chuyện đưa chú mày qua bên ấy. Chú mày yên trí, chuyện này tớ sẽ lo được.



Nghe anh H nói tôi vô cùng mừng rỡ, nhưng cũng rất phân vân. Sau một thoáng lo ngại, tôi thú thực:



- Được anh giúp đỡ tôi rất mừng. Nhưng thưa với anh, tôi chẳng có tiền bạc gì…



Anh H cười gạt đi:



- Khỏi lo, khỏi lo. Nói thực với chú em, chuyện vượt biên này đâu có tốn kém gì. Mạng lưới buôn trâu của tớ từ biên giới về các tỉnh thì vẫn còn đó. Khi thì buôn trâu, khi thì buôn hàng họ, đủ thứ, gặp cái gì buôn cái đó. Bây giờ tớ chỉ cần gửi gắm chú mày với lão Z ở Hà Nội là chú mày cứ yên tâm đi thẳng một lèo qua biên giới. Bảo đảm không gặp trục trặc gì.



Tôi ngạc nhiên:



- Lão Z?



Anh H cười:



- Lão Z là biệt hiệu của tụi tớ đặt cho lão, chứ lão còn trẻ măng à. Mới ngoài 30 tuổi thôi. Nhà lão ở gần chùa Xã Đàn, Hà Nội. Chú mày ở Hà Nội có biết hồ Xã Đàn không nhỉ?



Tôi mừng rỡ:



- Dạ hồ Xã Đàn cạnh khu tập thể Nam Đồng?



- Thì chỗ đó đó… Trước làm ăn được, có cơ ngơi ngang dọc đủ cả, nên bố lão Z ở đó. Sau này buôn bán bị thua lỗ, cơ ngơi bán sạch, chỉ còn có mỗi cái chuồng trâu, nên bố lão Z mới cho con về ở đường Lý Thường Kiệt, gần đài phát thanh Việt Nam… Bây giờ tớ cho chú mày địa chỉ của lão. Chú mày học thuộc lòng nghe. Đừng viết ra giấy, lỡ có chuyện gì nguy hiểm cho lão…



KỲ 80



Ngay ngày hôm sau, theo địa chỉ của anh H cho, tôi tìm đến nhà của anh Z vào lúc 10 giờ sáng. Đó là căn nhà một tầng, bằng gạch, xây cất theo lối Hà Nội cổ, cánh cửa gỗ nặng nề, bụi bặm bám đầy, trông tựa nhà hoang. Sau giây phút ngần ngừ, tôi bấm chuông. Lắng nghe một hồi không thấy động tĩnh gì kể cả tiếng chuông cũng không



thấy, tôi bấm chuông hai ba lần nữa, vẫn im lìm. Đang tính bỏ đi, bỗng nhiên có tiếng đàn ông, ngay sau cánh cửa, hỏi nhỏ nhưng rõ ràng, oai vệ:



- Ai đó?



Tôi lễ phép:



- Thưa tôi là bạn của anh H, được anh bảo đến đây tìm anh Z…



Một thoáng im lặng, rồi tiếng người đàn ông:



- Ở đây không có ai là “anh Z”, chỉ có “lão Z” thôi.



Tôi sực nhớ ra lời dặn của anh H, vội nói:



- Dạ đúng, anh H dặn tôi đến tìm “lão Z”. Tôi nói lộn…



Cánh cửa gỗ dầy bằng lim đen từ từ mở, tiếng bản lề rít lên khô khan, có vẻ như lâu lắm nó chưa đón người khách nào.



Trước mặt tôi là một cụ già tuổi khoảng bảy tám chục, da hồng hào, râu tóc bạc như cước, chòm râu dài đến ngực. Mới thấy cụ, tôi đã đem lòng kính ngưỡng, vội cúi đầu kính cẩn:



- Con chào cụ. Cụ tha lỗi, con nghe tiếng nên không biết…



Cụ cười phúc hậu:



- Tôi là ông nội của “lão Z”. Mời anh vô đi… Theo tôi, theo tôi…



Dứt lời, cụ quay lưng bước đi với vẻ tráng kiện, nhanh nhẹn. Tôi đi theo cụ qua một phòng khách nhỏ, kế đến là sân lát gạch bát tràng màu gan gà, rồi tới phòng khách thứ hai rộng hơn, đầy đủ tiện nghi hơn. Cụ mời tôi ngồi xuống chiếc tràng kỷ bằng gỗ. Nhìn chung quanh, tôi thấy cách trang trí đậm đà màu sắc nhà cổ Hà Nội. Tất cả mọi vật trong phòng đều làm bằng gỗ lim đậm. Từ kèo cột, nóc nhà đến sàn nhà; từ bức hoành phi, hai câu đối, đến các bức tranh, bàn ghế,… tất cả đều bằng gỗ.



Cụ pha nước trà cho tôi uống rồi ân cần hỏi chuyện. Tôi cũng thành thật đem chuyện tôi gặp H ở Nam Định trong hoàn cảnh nào, H biết tôi dùng tên giả ra sao, dặn dò tôi tới “lão Z” để được giúp đỡ như thế nào,… nhất nhất thuật lại cho cụ nghe.



Nghe xong chuyện, cụ vuốt râu cười ha hả rồi sảng khoái nói:



- Anh thật thà với tôi như vậy tôi rất cảm động. Tôi cũng chẳng cần biết vì sao anh phải dùng tên giả. Thời buổi này, tri kỷ tri bỉ với nhau vậy là đủ, phải không anh? Còn tôi, chẳng nói giấu gì anh, “lão Z” là cháu nội của tôi. Tôi người gốc Lộc Bình, Lạng Sơn, sống bằng nghề buôn trâu được mấy đời rồi. Từ thời Pháp lận. Ngày đó thì khấm khá lắm. Con trâu là đầu cơ nghiệp mà anh. Các cụ mình đã chẳng nói, “Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà. Cả ba việc ấy ắt là khó thay”… Con trâu nó to tát như vậy nên các cụ nhà mình mới nói là “tậu”, nó cũng giống như tậu nhà, tậu ruộng vậy mà. Buôn trâu nhờ vậy nó mới phất dễ. Nhưng sau này thì khốn khó đủ đầu. Mà sau này khốn khó đâu chỉ có nghề buôn trâu đâu, cái thời quỷ ngự trị thế gian này thì anh biết rồi đó, có nghề nào được sống cho ra hồn đâu… Anh ngồi chơi uống nước đi… “lão Z” cũng sắp về bây giờ rồi…



Quả nhiên, tôi ngồi nói chuyện với cụ được một lúc thì “lão Z” về. Thoạt trông, tôi hiểu ngay tại sao anh có tên “lão Z”. Thì ra gương mặt của anh tuy còn rất trẻ, chỉ mới khoảng trên dưới 30, nhưng mái tóc của anh bạc trắng. Anh có thân hình cao to, lưng hơi khòng, bước đi vòng kiềng, mắt lồi, lông mày xếch, ngoại trừ có miệng rộng và mũi to hình trái mật, chứng tỏ là người đởm lược giống ông nội, còn thì bề ngoài anh trông khác hẳn ông nội.



Sau khi nghe tôi kể đầu đuôi câu chuyện đã gặp H và toan tính vượt biên qua biên giới Việt Trung của tôi, “lão Z” trầm ngâm một lúc, rồi nói:



- Chuyện vượt biên sang Trung Quốc đối với tụi tôi thì không có khó, vì dân buôn trâu chúng tôi thông thuộc đường lối, đi về bên đó như cơm bữa, muốn đi lúc nào chả được, mà muốn qua chỗ nào cũng dễ. Thời đó bảo đưa anh qua biên giới thì dễ như trở bàn tay. Nhưng đó là ngày xưa. Còn kể từ khi nhà nước ta có chính sách chống



Trung Cộng bá quyền khu vực, thì tình hình dọc theo biên giới hai nước rất là căng thẳng, lúc nào cũng như sắp đánh nhau to. Hầu hết các làng xóm, thị trấn dọc theo biên giới bây giờ đều được lệnh “tiêu thổ” chuẩn bị chiến tranh chống quân Tàu xâm lăng, nên tất cả những “chốt” của tụi này đều chẳng còn…



Tôi băn khoăn hỏi:



- Theo anh thì liệu quân Tàu có xâm lăng mình không?



- Thì hai nước chửi nhau còn hơn kẻ thù. Cứ nghe đài phát thanh, nhà nước mình chửi tụi Tàu cộng bây giờ còn gấp mấy chửi Mỹ ngày xưa. Mà tụi Tàu thì người đông, gạo thóc không đủ ăn, nên chúng đang muốn xua quân dùng chiến thuật biển người xâm lăng mình để nướng quân mà anh. Thiệt tình, bây giờ thì chả còn “môi hở răng lạnh” mà cũng hết cả “núi liền núi, sông liền sông, chung một tiếng gà gáy cùng”… Đúng là nghĩa tình sớm nắng chiều mưa.



- Anh nghĩ bao giờ thì Trung Cộng xâm lăng.



- Chuyện đó làm sao tôi biết được. Nhưng nếu anh muốn vượt biên sang Trung Cộng thì phải đi càng sớm càng tốt. Bây giờ Trung Cộng còn cho người Hoa về nước, thì tốt nhất anh cứ đóng giả người Hoa, trà trộn về nước với họ, qua ngả Lạng Sơn hoặc Móng Cái. Chứ chờ đến sau khi hai nước đánh nhau thì chẳng còn có cơ hội nào nữa đâu.



Ngưng một chút suy tư, anh nói tiếp:



- Theo tôi thì tốt nhất bây giờ anh nên trà trộn với người Hoa, đi tàu chợ đến Lạng Sơn, rồi từ Lạng Sơn anh đi gặp ông MN là “chốt” của tôi ở đó. Ông ta sẽ chỉ dẫn cho anh cách qua biên giới an toàn.



- Còn ngả Móng Cái đi có dễ không?



- Ngả Móng Cái thì gian nan lắm. Đi ngả này chỉ có thể đi xe lửa từ Hà Nội đi Hải Phòng. Còn từ Hải Phòng đi Móng Cái toàn đường lộ, phải đi xe hơi. Mà đi xe hơi thì dễ bị công an xét hỏi giấy tờ lôi thôi, rất nguy hiểm. Nhất là từ vùng Đam Hiền, Đại Điền lên đến Yên mô, Long Kiềng, Móng Cái, bây giờ toàn bộ đội, công an không à. Dân ở vùng này chỉ còn loáng thoáng thôi. Anh vô đó bây giờ là anh có cảm tưởng như vô doanh trại bộ đội vậy đó.



- Nếu đi xe sợ bị xét giấy tờ lôi thôi, anh nghĩ tôi có thể đi bộ từ Hải Phòng đến Móng Cái được không?



Lão Z trợn mắt nhìn tôi:



- Bộ anh điên hả? Từ Hải Phòng đến Móng Cái cả mấy trăm cây số, đi bộ làm sao được. Nhất là thời tiết này đang sắp bước vào mùa đông, lãnh lẽo vô cùng… Tốt nhất anh cứ nghe tôi đi đến Lạng Sơn, rồi sẽ có người nhà của tôi giúp đỡ cho anh qua biên giới. Mà anh phải lo liệu nhanh nhanh mấy được… Thêm ngày nào là khó khăn thêm ngày ấy.



Sau một phút suy nghĩ, tôi nhớ đến người bạn tù, quê ở Hải Phòng. Tuy anh này vẫn còn ở trong tù, nhưng tôi vẫn nhớ địa chỉ của gia đình anh. Tôi biết, sau khi tôi trốn tù, nhà cầm quyền địa phương chắc chắn chỉ theo dõi gia đình của tôi. Còn đối với gia đình của các bạn tù, thì họ sẽ không để ý. Vì vậy, nếu tôi thận trọng, tôi có thể đến nhà của anh M để nhờ vả. Biết đâu, gia đình anh chẳng giúp tôi vượt biên theo ngả Móng Cái? Nghĩ vậy, tôi hỏi thêm “lão Z”:



- Nếu đi ngả Lạng Sơn không trót lọt, tôi sẽ trở lại Hà Nội đi ngả Móng Cái, có được không?



“Lão Z” gật đầu:



- Được chứ sao không. Khi đó, tôi sẽ gửi anh cho một người bạn ở Hải Phòng. Anh chàng này là dân giang hồ thứ thiệt, chì khỏi chê.



Tôi mừng rỡ, hỏi anh:



- Vậy anh có thể cho tôi luôn tên và địa chỉ của anh ta được không? Lỡ có chuyện gì, đi Lạng sơn không thành thì tôi sẽ đáp xe lửa đi thẳng Hải Phòng, khỏi đến đây làm phiền anh…



“Lão Z” lắc đầu:



- Chuyện đó để sau tính. Bây giờ anh đi đường Lạng Sơn thì cứ biết đường Lạng Sơn. Khi nào không thành, anh về đây đi đường Móng Cái thì lúc đó hãy hay…



Sau đó “lão Z” cho tôi tên và địa chỉ người thân ở Lạng Sơn, nhưng bắt tôi học thuộc lòng ngay tại chỗ, chứ không cho tôi ghi chép. Sự cẩn thận của anh, chứng tỏ anh là người rất từng trải.



Khoảng hạ tuần tháng 8 năm 1978, tôi đáp tàu chợ đi Lạng Sơn. Trên tàu, hầu hết hành khách là người Việt gốc Hoa. Những người Hoa từ Miền Nam thì đa số nói tiếng Hoa. Còn người Hoa từ Miền Bắc thì lại nói tiếng Hoa rất ít, vì chính sách đồng hoá bắt học đọc, học nói, học viết tiếng Việt, của nhà cầm quyền Hà Nội trong suốt mấy chục năm kể từ khi CS chiếm đóng Miền Bắc. Trên suốt chặng đường từ Hà Nội đi Lạng Sơn, tôi được người Hoa ở Miền Bắc kể lể không biết bao nhiêu chuyện công an, bộ đội cộng sản Việt Nam tàn ác, cướp bóc của cải, phá phách nhà cửa, tiệm buôn… của người Hoa. Có nhiều chuyện nghe thật thê thảm, không biết bao hàng xóm láng giềng Hoa Việt, suốt bao nhiêu thế hệ sống có tình có nghĩa, sớm lửa tối đèn có nhau, bỗng nhiên bị hâm nóng bởi ngọn lửa tuyên truyền của CS, bỗng một sớm một chiều trở thành thù nghịch, tìm mọi cách để giết hại nhau.



Dọc đường từ Hà Nội đi Lạng Sơn, tôi cũng chứng kiến hàng đoàn xe quân sự chở đầy bộ đội, tiến về phía bắc. Ngoài ra, xe tăng, đại pháo và những đoàn bộ đội, trang bị đầy đủ súng ống, cũng lũ lượt đổ về phương bắc.



Tôi đến được ga Đồng Đăng vào chiều tối Thứ Bảy cuối tháng 8. Tôi không nhớ chính xác đó là ngày nào, nhưng tối hôm đó trời mưa phùn và rất lạnh. Ga Đồng Đăng là ga đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam trên tuyến đường từ Trung Quốc sang Việt Nam. Cả sân ga lúc đó ồn ào, náo loạn, hệt như một nhà ga trong chiến tranh. Thêm vào đó, những chiếc loa trên sân ga ầm ĩ phát thanh những bài chửi bới Trung Cộng thật thậm tệ.



Vượt khỏi trí tưởng tượng của tôi, toàn bộ nhà ga Đồng Đăng lúc đó đầy bộ đội, công an biên phòng và các lực lượng dân quân du kích. Tất cả những người Hoa từ trên tàu bước xuống đều bị đám công an và bộ đội biên phòng dồn vào một góc sân ga. Tiếng kêu hét, tiếng gọi nhau, tiếng khóc la, ầm ĩ, huyên náo cả một góc trời…



Một người công an mặc áo bốn túi, không đeo quân hàm, không đội mũ, cầm một chiếc loa bằng sắt tây, nói lớn bằng tiếng Việt. Một người công an khác đứng cạnh, cầm một chiếc loa khác, nhắc lại những lời của người công an kia, bằng tiếng Quảng và tiếng Quan Thoại. Đại ý, người công an báo cho mọi người biết, chính quyền Trung Cộng đã quyết định đóng cửa biên giới, không chịu cho người Hoa về nước, bất kể họ có chiếu khán nhập cảnh do toà đại sứ hay lãnh sự của Trung Cộng tại Việt Nam cấp hay không. Vì vậy, tất cả mọi người phải chấp hành nghiêm chỉnh lệnh cư trú tạm thời ở trong nhà ga, trường học, và những căn nhà hoang quanh ga Đồng Đăng. Để bảo vệ an ninh và tính mạng của mọi người, không một ai được phép qua ải Chi Lăng cũng như qua biên giới. Bất cứ ai bất tuân lệnh sẽ bị lực lượng biên phòng “xử lý” tại chỗ.



Sau khi viên công an nói tiếng Hoa dứt lời, mọi người xôn xao bàn tán. Tiếng la ó, chửi bới, khóc than càng thêm ầm ĩ. Tôi nghe tin cũng thấy chán nản, nhưng không đến nỗi tuyệt vọng. Vì phương án vượt biên giới của tôi ngoài cách trà trộn với người Hoa, còn có cách nhờ ông MN, một trong những “chốt” buôn trâu được “lão Z” gửi gắm. Yên tâm với phương cách này, tôi lặng lẽ kiếm một góc kín đáo trong nhà ga, nằm ngủ, với ý định sẽ tìm gặp MN vào ngày mai…

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn