BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 30214)
(Xem: 29282)
(Xem: 26287)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Hải đảo bị lãng quên

04 Tháng Ba 201312:00 SA(Xem: 453)
Hải đảo bị lãng quên
51Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
51


Hải đảo Pulau Bidong, có một lịch sử khác thường từ một trại tỵ nạn, đã âm thầm trở nên một điạ điểm thăm viếng cho các du khách cựu thuyền nhân. Đó là điều ghi nhận được Bộ Trưởng Văn Hóa, Thanh Niên và Du Lịch, Datuk Paduka Abdul Kadir Sheikh Fadzir trình trước Quốc Hội hôm thứ Tư vừa qua. Tuy vậy, vẫn chưa có một điều nào được thực hiện để bảo tồn trại tỵ nạn cũ, một thời đông đảo. Phóng viên Meng Yew Choong.

Lần trở lại Bidong, tôi được nhắc nhở lần nữa về sức mạnh của thiên nhiên và những thuyền nhân chúng tôi đã may mắn, sống sót qua chuyến hải hành dài, trên một con thuyền mong manh dài 10,5 mét chứa 61 người. Tôi nhớ đến những người đàn ông Mã Lai da ngăm đen, quấn sà rông (sarong) đi trên hai chiếc thuyền, đã rất tử tế cho chúng tôi nước uống và thực phẩm. Đúng thế, tôi đã gặp lại họ trong chuyến viếng thăm tháng Ba vừa qua. Họ là những vị anh hùng, những thiên thần trong tim và tôi sẽ không bao giờ quên những hình ảnh của họ. Cũng trong chuyến đi này, tôi muốn nói, hầu hết tất cả đều là những người tốt. Một ấn tượng đẹp đẽ khi biết rằng, có những người không quen biết hoặc chưa từng gặp vẫn mở rộng vòng tay giúp đỡ cho chúng tôi tạm trú. Đó là Daniel Nguyễn, cựu thuyền nhân Pulau Bidong.

Daniel Nguyễn là một trong số 1,6 triệu người Việt Nam, từ năm 1975 đến cuối thập niên 1980s, đã làm một cuộc hành trình đầy nguy hiểm, băng qua biển Nam Hải tìm tự do. Gần 255 ngàn người tỵ nạn đã đến được bờ biển Mã Lai và đa số được đưa đến hải đảo Pulau Bidong thuộc Terengganu.

Nhưng tên Bidong nghe rất xa lạ trong thế hệ trẻ người Mã Lai sau này. Một người bạn học của tôi, đã gần 30 tuổi đời vẫn chưa hề nghe nói đến hải đảo này. Một số ít người khác, sự hiểu biết của họ rất mơ hồ, không hoàn toàn biết rõ những chuyện xẩy ra trên hải đảo rộng 260 mẫu.

Nói sơ qua về lịch sử, đợt thuyền nhân (danh từ thường dùng để gọi những người tỵ nạn bằng thuyền) đầu tiên rời bỏ miền nam Việt Nam, sau khi Cộng Sản miền bắc chiếm được thủ đô Saigon năm 1975. Đến năm 1978, tình hình Việt Nam trở nên bết khi người Trung Hoa xâm lăng khu vực phiá bắc Việt Nam, gây nên sự nghi kỵ nhóm thiểu số người Việt gốc Hoa. Trong khi tài sản của họ bị chính quyền tịch thâu, việc làm ăn buôn bán của họ gần như bị chận đứng, nhiều người Hoa đã mua “giấy thông hành” ra khỏi nước, trả bằng vàng để được an toàn ra đi.

Và từ đó, đưa đến một phong trào di cư khổng lồ của người Việt Nam, trên những chiếc thuyền mong manh, vượt đại dương đi tìm một tương lai tốt đẹp hơn. Đó cũng là phương tiện để Daniel Nguyễn đến Pulau Bidong.

Ông ta đến bờ biển Mã Lai vào buổi tối hôm 14 tháng Tư năm 1980, và hai ngày sau được đưa đến đảo Pulau Bidong. Bẩy tháng sau, Daniel Nguyễn giã từ hải đảo để đi định cư tại Hoa Hỳ.



Mặc dầu điều kiện sinh sống trên đảo không được đầy đủ nhưng Pulau Bidong là một nơi dung thân cho những ai trốn tránh sự đàn áp của chế độ cộng Sản, vào thời điểm đó. “Nhìn lại, thời gian tôi trải qua nơi trại tỵ nạn Pulau Bidong là một giai đoạn đặc biệt nhất trong cuộc đời tôi. Chúng tôi đã phải làm việc rất cực nhọc, nhưng nghĩ lại đó là thời gian xúc động tình người”. Đó đà câu trả lời của Daniel Nguyễn qua điện thư (email).

Từng chiếc thuyền con chở người tỵ nạn đến bờ biển Mã Lai làm số người tỵ nạn bỗng dưng gia tăng nhanh chóng như nước lũ làm cho các cơ quan thiện nguyện phải yêu cầu Liên Hiệp Quốc cũng như chính quyền Mã Lai giúp đỡ. Trong tháng Tám năm 1978, chính quyền Mã Lai lập trại tỵ nạn Pulau Bidong ngăn cách với công chúng. Vào lúc cao điểm, có đến 40 ngàn người tỵ nạn tạo nên một Saigon nhỏ với những kiến trúc bằng gỗ và kẽm. Từ đất liền Mã Lai có thể nhìn thấy đèn trên đảo, ngoại trừ giờ giới nghiêm (11 giờ 30 đêm đến 6 giờ sáng).

Giới thẩm quyền, Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc tài trợ trại tỵ nạn, trong khi hội Red Crescent (hình lưỡi liềm – như hội Hồng Thập Tự) người Mã Lai lo việc điều hành trại tỵ nạn. Họ xây dựng trong trại một trung tâm hành chánh, một trường học, một nhà thương và một thư viện. Họ cũng để cho người tỵ nạn mở quán hàng buôn bán trong trại. Những người tỵ nạn nhiều đức tin, xây dựng thêm một ngôi chùa và một nhà thờ mà vẫn còn đứng vững cho đến ngày nay.

Năm 1989, chính quyền Việt Nam đồng ý cho người tỵ nạn hồi hương, chấm dứt câu chuyện tỵ nạn, vấn đề thuyền nhân. Đến năm 1991, đảo Pulau Bidong không còn được dùng làm trại tỵ nạn. Do đó, chính quyền trung ương Mã Lai trả lại cho chính quyền Terengganu. Tuy nhiên quy chế (khu vực cấm) vẫn dây dưa đến năm 1999. Ngay cả du khách đến thăm viếng vẫn không được phép chụp ảnh và hải đảo có cảnh sát, binh sĩ.

Khi phóng viên báo chí, tờ “The Star’s WeekEnder” đến thăm Pulau Bidong trong tháng Sáu năm 1999, gần hết các kiến trúc trên đảo đã bị xụp đổ hoặc cây cối che phủ. Lúc tôi đến tôi đã bị xụp xuống sàn gỗ đang hư hại của nhà thờ.

Sau năm 1999, nếu thiên nhiên “bỏ qua” một kiến trúc nào đó, việc trộm cắp chắc chắn sẽ không tha. Kẻ trộm làm hư hại rất nhiều những đồ vật mang tính chất lịch sử hoặc có giá trị trong kỹ nghệ du lịch, khi PSA (có lẽ là một đảng phái chính trị) thắng cử trong tháng Mười Một năm 1999.

Sau năm 1999, theo lời một ngư dân điạ phương, không còn lính canh gác nữa (Rela) “Chính quyền PSA không muốn trả lương cho họ”. Sau đó nhiều kiến trúc trong trại tỵ nạn đã bị tháo gỡ và nhiều cái khác bị thiêu đốt (hai cái trong tháng Ba vừa qua).

Kiến trúc lớn làm trung tâm hành chánh đã bị tháo hết ván gỗ, chỉ còn lại nền xi măng. Tất cả những dụng cụ để lại trong xưởng dậy nghề đều bị đập phá. Sự hư hại lan qua mấy bức tượng trong chùa hay trong nhà thờ.

Tuy nhiên vẫn có mấy kiến trúc tồn tại qua bao năm tháng. Quan trọng nhất là bức tượng người cha lôi kéo con gái mình lên từ nước biển. Bức tượng vẫn còn đứng vững như đón chào du khách. Ngoài bức tượng còn những tấm bia bằng xi măng, thuyền nhân ghi khắc như lời tạ ơn đấng Tối Cao đã cứu sống họ qua cuộc hành trình nguy hiểm, và cũng để tưởng niệm những thuyền nhân kém may mắn. Những bia đá cho những ai chết trên đảo.

Những hư hại trên đảo không có nghiã chính quyền điạ phương không quan tâm đến việc bảo tồn trại tỵ nạn. Từ đầu năm 1992, một năm sau khi Pulau Bidong được trả lại cho chính quyền Terengganu, chính quyền điạ phương đã có dự án bảo trì trại tỵ nạn để thuyền nhân có thể trở về thăm viếng. Điều đáng buồn là sau đó, chẳng ai nhắc đến dự án. Nhưng mới đây, câu chuyện Pulau Bidong và thuyền nhân như sống lại, viện bảo tàng Terengganu mở cuộc triển lãm kéo dài một tháng, trưng bầy hình ảnh trại tỵ nạn. Theo lời phó giám đốc viện bảo tàng, Che Mohd Azmi Ngah, việc triển lãm để cho mọi người biết lịch sử hấp dẫn của đảo Pulau Bidong mà nhiều người Mã Lai không biết đến chuyện này.

“Kết cuộc, nhiều vật lưu niệm trên đảo đã bị lấy mất, phần lớn do các ngư dân điạ phương. Hy vọng cuộc triển lãm sẽ nhiều người chú ý và chính quyền sẽ phải bảo vệ những gì còn lại của trại tỵ nạn”. Che Mohd nói thêm, từ đầu năm chính quyền điạ phương đã có buổi hội thảo với các cơ quan trong vấn đề phát triển đảo Pulau Bidong.

Trong khi chính quyền điạ phương hứng khởi về kỹ nghệ du lịch, hai câu hỏi được đặt ra: Du khách là những ai? Và ai sẽ lo việc bảo trì? Theo lời Alex Lee, giám đốc công ty du lịch Ping Anchorage Travel, văn phòng ở Terengganu, có vài nhóm muốn xây dựng kỹ nghệ du lịch trên đảo. “Tuy nhiên, tôi không đồng ý chuyện này, chính quyền điạ phương nên bảo trì trại tỵ nạn như chính quyền tiểu bang California gìn giữ khu phố xưa thời gian đi tìm vàng (gold rush).” Cũng theo ông Lee, lịch sử đảo Pulau Bidong rất lôi cuốn, tuy nhiên cần phải tu sửa, gìn giữ kỹ lưỡng trước.

Theo ông Nguyễn, ông ta tin rằng nhiều cựu thuyền nhân muốn quay trở về để thăm viếng. “Tuy nhiên còn nhiều khiá cạnh khác. Nhiều người cho rằng những kỷ niệm “làm thuyển nhân” rất đau lòng để làm sống lại. Nhiều phụ nữ, con gái bị hải tặc cưỡng bức, đàn ông bị đánh đập, giết chết. Thêm sự sỉ nhục là một người tỵ nạn.”

Theo ông ta chuyến viếng thăm Pulau Bidong trong tháng Ba vừa qua là một chuyến đi hành hương, chuyện tinh thần cá nhân. “Cá nhân tôi muốn ở lại qua đêm nếu được phép. Khi các con tôi khôn lớn, tôi muốn đưa chúng đi thăm Pulau Bidong để chúng biết thêm về lịch sử gia đình mình”.

Ông Nguyễn thông cảm, sự tốn kém trong việc bảo trì trại tỵ nạn Paulau Bidong. Tuy nhiên sự hủy hoại gây cảm tưởng như mất mát một điều gì… Đó cũng là một phần của chúng tôi, một phần trong lịch sử Mã Lai.

Vũ Đình Hiếu

Sungkyunkwan University 
Department of Computer Education March 23, 2012

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn