BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 30763)
(Xem: 30697)
(Xem: 27638)
(Xem: 22355)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Chân dung hay chân tướng nhà văn : Nguyễn Khoa Điềm

12 Tháng Hai 201312:00 SA(Xem: 1190)
Chân dung hay chân tướng nhà văn : Nguyễn Khoa Điềm
52Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
52
Vào những ngày Đại hội nhà văn VN lần thứ 7, tháng 4 năm 2005 tại Hà Nội, trong các cuộc nhậu có nhà thơ , nhà văn Trần Ninh Hồ, Nguyễn Hồ, Trần Công Tấn, Mường Mán…thường “buôn chuyện” về nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm khi đó đang là Trưởng ban tư tưởng văn hóa trung ương.

Chuyện “buôn” rằng đồng chí Nguyễn Khoa Điềm thông minh đĩnh ngộ từ nhỏ. Hồi năm 7 tuổi, trong bếp có “trách” * cá nục kho. Bé Điềm thèm quá, đành ăn vụng, sau sợ bị mắng nên rắc vài mẩu cá từ chỗ để cái “trách” tới gầm trạn để vu cho…con mèo ăn vụng cá. Dựng “ hiện trường giả” từ tuổi nhi đồng vậy, quả nhiên sau này làm nên nghiệp lớn.

Chuyện “buôn rằng” hồi chiến tranh chống Mỹ ở trên rẫy A Sầu, A Lưới mọi thứ đều thiếu thốn, cán bộ đói lắm , nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm thường cùng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đốt rẫy bắt con “rít” ( rết) nướng ăn , ngon không thua gì ... tôm nướng. Một hôm hai đồng chí phát hiện ra cái… hang chuột. Eureka… một bữa chuột nướng tuyệt vời . Thế là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tương quạt lửa hun khói một đầu hang, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lăm lăm cầm con rựa ( dao) đứng chờ cuối hang, chuột chạy ra là… chém. Hai nhà bác cứ chờ, chờ mãi chẳng thấy con chuột nào chạy ra. Sau cùng một ông già Vân Kiều đi qua vỗ vai Nguyễn Khoa Điềm :

- “ Họ đi rồi… họ còn ở đó thì không tìm được nhà của “họ” đâu…”

Ý cụ muốn nói chuột đã chạy rồi, nếu còn ở đó thì không phát hiện được ra hang của nó đâu. Chuyện này có lẽ ám vào đồng chí Nguyễn Khoa Điềm khiến suốt cả thời kỳ giữ chức Trưởng ban văn hóa tư tưởng đồng chí chẳng chém được con “chuột” nào, chúng nó lẩn hết đâu mất.

Nguyễn Khoa Điềm


Thời nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm làm trùm tư tưởng văn hóa, không khí sáng tác không được “hồ hởi, phấn khởi” lắm, khiến ngay trong Đại Hội Nhà Văn Việt Nam lần thứ VII , tại Hội Trường Ba Đình – Hà Nội chiều ngày 23-4-2005, nhà thơ Trần Mạnh Hảo nhảy lên diễn đàn than thở :

“ Vâng, tự do sáng tác là khi ngồi trước trang giấy, nhà nghệ sĩ là Chúa Trời sáng thế. Anh tuyệt nhiên không được phép để một ám ảnh sợ hãi nào quấy nhiễu mình. Ví như anh còn phải day dứt viết thế này, viết thế nọ mới được duyệt in; rằng đang có bao nhiêu đôi mắt soi mói vô hình kiểm duyệt anh từ xa ví như viết xong một câu văn là cứ phải mắc bệnh tương tư, nhớ đến anh Khổng Minh Dụ ( thiếu tướng công an- Cục trưởng Cục Bảo vệ tư tưởng văn hoá ( A 25 Bộ Công An), Đỗ Kim Cuông ( Vụ trưởng Vụ Văn Nghệ Ban tư tưởng văn hoá Trung Ương), Trịnh Đình Khôi ( chuyên viên cao cấp Ban Tư tưởng Văn Hoá Trung Ương phụ trách theo dõi Hội Nhà Văn VN), Nguyễn Đình Nhã ( Cục trưởng Cục xuất bản – Bộ Văn hoá Thông tin), Vũ Duy Thông ( Cục trưởng Cục báo chí Ban Tư Tưởng Văn hoá Trung Ương) , nhớ mấy anh canh cửa phê bình, nhớ anh giám đốc duyệt bài, anh biên tập viên cầm hai tay hai cái kéo, nhớ anh duyệt lưu chiểu hồi này với máy dò câu chữ nghe đồn còn kỹ hơn máy dò hành lý hải quan; thì than ôi, bằng ấy cơ chế kiểm duyệt đè nặng lên tâm lý sáng tạo của anh, nên “vừa viết vừa run” như thế; nghĩa là anh vừa viết vừa tự thiến đứa con tinh thầm của mình, cho khi ra đời nó không được có cơ hội cuồng lên vì phát dục, xóa hết bản năng sinh tồn bùng sôi của nó đi, đẽo gọt chân nó sao cho vừa với đôi giày “chính trị” đi, thì nhà văn ơi, tự do sáng tác ơi, ta chào mi, vì mi quá nhiêu khê, quá rách việc, quá nhiều cơ quan và nhiều cá nhân quyết định việc sống còn của ngòi bút mi theo kiểu nhiều cha con khó lấy chồng. Quá nhiều người gác cửa, có thể bất cứ lúc nào vui thì cho anh qua, buồn thì giữ anh lại khám xét, lục vấn, xử lý cấm cản tuỳ tiện vô nguyên tắc như từng thô bạo xử lý bao nhiêu nhà văn, bao nhiêu tác phẩm chết oan vì vừa ra đời đã bị bóp mũi.”

Một tổng kết về “tự do sáng tác” như vậy hẳn rát mặt ngài trưởng ban tư tưởng văn hóa. Vào khoảng năm 1994 , tôi cùng ông anh ruột sống ở Sàigòn trước 1975 nay định cư ở Mỹ, nhà văn Nhật Tiến “hưởng ứng chủ trương hòa giải hòa hợp hợp dân tộc” ra chung tập truyện ngắn “Quê nhà, quê người” – Nhật Tiến viết phần “Quê người”, tôi viết “Quê nhà”. Bản thảo gửi NXB Văn Học, trầy trật mãi không xin được giấy phép. Nghe nói có ông lãnh đạo chửi “ Mẹ nó, thằng Việt kiều ( ý nói Nhật Tiến) thì viết y như Việt cộng, còn thằng Việt cộng ( ám chỉ tôi) thì lại viết như…Việt kiều (!)”. Cuốn sách tưởng bế tắc, không xuất bản được. Sau nghe nói đồng chí Nguyễn Khoa Điềm có ý kiến sao đó, cuốn sách lại có giấy phép tuy nhiên kèm theo yêu cầu là sách được xuất bản nhưng cấm không được tuyên truyền trên các báo. Báo hại phóng viên một số tờ báo sửa soạn phỏng vấn nhà văn Nhật Tiến đều phải rụt lại hết.

Thế rồi sang năm 2000, khi Nguyễn Khoa Điềm trúng cử Ủy viên Bộ chính trị , Trưởng ban tư tưởng văn hóa thì liền sau đó cuốn “Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn bị cấm, phải xay thành giấy vụn.
Cùng lúc với “Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn, một cuốn sách khác cũng bị dìm chết tức tưởi khi mới xuất xưởng in mà dư luận dường như không hề biết tới : cuốn “Những người con của đất” – NXB Văn học của Đỗ Bàn.

Cuốn sách viết về thời kỳ đổi mới những năm tám chín mươi ở một tỉnh miền núi nghèo đói. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã gây nên tình trạng đấu đá tranh giành quyền lực trong Đảng. Ông Duy đại diện cho phái tân tiến, có học, cần phải đổi mới gấp, chịu làm, năng động muốn phá vỡ cơ chế hiện tại. Ông Bí thư Tỉnh phái ôn hoà, làm hay không làm cũng chưa chết ai, cứ đợi đấy. Ông Trịnh Giám đốc công an Tỉnh ở phái bảo thủ cơ hội, chờ thời tiêu diệt những người coi thường mình.
“Tao vô học nhưng tao phải là tao, chúng mày thích “tự cởi trói cho mình trước khi trời trói”, thì hãy đợi đấy !

Một xã hội lùng nhùng, một nền kinh tế lùng nhùng, chỉ có thằng nói không có thằng dám làm ? Nghị quyết, chỉ thị, nghị định, quy chế… chỉ là những văn bản cho bọn cơ hội bóp chết người trung thực dám làm và dám chịu trách nhiệm. Văn bản chỉ thị của Tỉnh thay đổi xoành xoạch : bắt dân phá rau, hoa, chè, cà phê trồng khoai lang, cao lương… khi thất bại đành bán rừng đổi gạo cứu đói và một loạt sai phạm đó lại dội vào đầu những người thực hiện.

Trong một thời gian ngắn, Giám đốc công an Trịnh đã bắt ngót trăm giám đốc của các đơn vị kinh tế trong tỉnh, từ ngành chè, cà phê, lâm nghiệp, thương nghiệp…có người đáng bậc cha chú, đàn anh của mình, có người đồng chí trong những ngày Trịnh truy quét Fulrô… bắt và bắt làm cho cả tỉnh rúm ró lại. Những người như ông Duy chỉ còn biết thở dài ngao ngán, còn ông bí thư thì như bù nhìn “rằm cũng ừ mười tư cũng gật”. Một xã hội công an trị đến ngộp thở, bị bưng bít tới cùng đường thì còn gì là cuộc sống.

“Những người con của đất “ là tiếng nói cảnh tỉnh của những con người trung thực thẳng thắn, sống hết mình vì nhân dân, đã bị hào quang của đảng qua những kẻ dối trá làm mờ mắt mà hy sinh tính mạng một cách vô ích. Nhưng đất vẫn là đất, ai cũng phải sống rồi chết trên mảnh đất này, những kẻ độc ác, cơ hội, tham lam rồi sẽ bị đất huỷ hoại không thương tiếc.

Khi cuốn sách được phát hành cùng thời với cuốn “ Chuyện kể năm 2000” của nhà văn Bùi Ngọc Tấn,Giám đốc Trịnh đã tìm mọi cách cấm phát hành, làm việc với các ngành pháp luật của tỉnh để truy tố người viết… Lúc đó tôi là Trưởng Chi nhánh phía Nam Nhà xuất bản Văn Học, đành phải im lặng tiến hành thủ tục “thu hồi sách”. Sách bị giam cầm, người viết như tù giam lỏng trong thời ông Nguyễn Khoa Điềm ngồi chót vót trong ngành văn hóa tư tưởng.

Sang năm 2003 lại một vụ “cấm sách” dưới triều ông Nguyễn Khoa Điềm. Lần này động trời hơn vì tác giả bị cấm lại là ông nhà văn nổi tiếng ca ngợi cách mạng : Nguyễn Khải, lúc đó là Phó Chủ tịch Hội nhà văn VN, đại biểu quốc hội khóa 8. Hơn thế , cuốn sách đã đăng nhiều kỳ trên tạp chí Nhà văn, nhưng đến khi in thành sách thì lại …cấm phát hành. Thực ra cuốn “Thượng đế thì cười” chẳng chửi Đảng cũng không bôi đen chế độ, nó chỉ có mỗi tội kể chuyện đại biểu quốc hội …ngủ gật.

Chương 22, Nguyễn Khải huỵch toẹt chuyện quốc hội :

“Trong suốt một nhiệm kỳ Quốc hội khoá 8 hắn chỉ phát biểu có một lần về những điều bổ sung cho Luật Báo chí. Hắn đề nghị Quốc hội xem xét cho ra báo tư nhân và nhà xuất bản tư nhân để đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản của một xã hội văn minh. Hắn vừa ngồi xuống thì bà T. cũng là đại biểu của thành phố Hồ Chí Minh, nguyên là một nữ luật sư danh tiếng của Sài Gòn trước đây, một thượng nghị sĩ trong phe đối lập với chính quyền Thiệu, đứng lên phản đối liền. Bà nói, đại ý, rằng hắn chưa từng sống trong xã hội tư bản nên mới ngộ nhận là ở đó có tự do báo chí! Không có đâu! Danh nghĩa là báo của tư nhân nhưng nguồn tài trợ thường xuyên để nuôi sống nó luôn luôn là của các tổ chức chính trị, tôn giáo, nghề nghiệp đầy quyền lực. … Bà vừa dứt lời tiếng vỗ tay đã vỡ ra vang dội và kéo dài khắp hội trường. Ông chủ quyền lực bắt đầu ghét hắn từ ngày ấy, đã muốn đuổi hắn ra khỏi cơ quan quyền lực từ ngày ấy. Rồi hắn lại ngủ gật nữa. Trong những phiên họp tranh cãi sôi nổi về một từ, một câu trong những điều luật bổ sung của Bộ luật Hình sự, thì hắn ngủ gục, đầu vẫn ngay, lưng vẫn thẳng nhưng đầu óc đã trống rỗng, mờ mịt, người ngồi cạnh phải hích nhẹ hắn mới bừng tỉnh. Một ông nghị gật như các báo vẫn chế giễu các ông nghị bản xứ thời Pháp thuộc. …”

Sách in xong bị cấm phát hành nhưng cũng còn may không bị đốt như “Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn, sau một năm nằm kho, cấp trên mới ra điều kiện muốn “giải tỏa” cuốn sách thì phải cắt bỏ cái đoạn “đại biếu quốc hội ngủ gật” .

Nguyễn Khải tâm sự :

“Tôi thấy đoạn kể chuyện ngủ gật ở Quốc hội cũng chỉ là chuyện nói vui, còn nhiều chuyện khác có ý nghĩa hơn, chỉ vì đoạn này mà cuốn sách không thể tới được tay bạn đọc thì cũng tiếc nên tôi đồng ý cắt một trang. Anh em bảo thế là không hay, cái ông Khải này lúc nào cũng nhân nhượng. Thật sự tôi thấy điều ấy cũng không phải là quan trọng nhất, cắt bỏ đi cũng chả ảnh hưởng gì đến quyển sách.”

Trong mấy ngày giáp tết Ất Dậu, ông Nguyễn Khoa Điềm làm một việc xưa nay một ông Trưởng ban văn hoá tư tưởng của Đảng chưa bao giờ làm là tới tận nhà riêng chúc tết một số… nhà báo. Và cũng trong một cuộc Hội thảo về công tác phê bình lý luận , tháng 11 năm 2004 tại Hà Nội ông Nguyễn Khoa Điềm có những phát biểu mới mẻ xưa nay các ông Trưởng ban văn hoá tư tưởng của Đảng chưa dám nói bao giờ .

Nói thế nào thì nói, qua những hành động đó người ta thấy một sự cải thiện hình ảnh ông trùm văn hoá văn nghệ Việt Nam xưa nay vốn vẫn bị coi là một “ông kẹ” luôn luôn cầm roi uốn nắn tư tưởng khắp bàn dân thiên hạ.

Ấy vậy rồi xảy ra một việc động trời chưa từng thấy “trên mặt trận văn hoá và tư tưởng “. Một nhà “phê bình lý luận “ nổi tiếng Mao-ít ở TP Hồ Chí Minh là Giáo sư Trần Thanh Đạm, trên tạp chí “Văn” số Tết Ất Dậu của Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh đã viết một bài nảy lửa đả phá một số quan điểm mới mẻ của ông Nguyễn Khoa Điềm làm người đọc bật ngửa về sự mạo phạm cấp trên, cả gan vuốt râu hùm, công khai phê phán lãnh đạo Đảng ngay trong dịp kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Đảng.

Ngay trong phần mở đầu dài dòng đầy những nguyên tắc mácxít cứng nhắc , ông Trần Thanh Đạm đã khen xỏ đồng chí Trưởng ban văn hoá tư tưởng :

”Diễn giả (tức NKĐ) không chỉ nói lên các ý kiến của mình với tư cách một nhà thơ, một người nghệ sĩ, ngoài các tư tưởng có tính cách chỉ đạo , còn có những ý tưởng riêng có tính cách cá nhân…làm bài phát biểu bớt đi tính áp đặt mà tăng thêm tính gợi mở , khuyến khích suy nghĩ và thảo luận…”

Thực ra đã là lãnh đạo Đảng trên bất cứ trận địa nào, khi phát biểu trước quần chúng lúc nào cũng phải mang tính cách huấn thị và chỉ được nói những quan điểm của Đảng mà thôi, sao “đồng chí” dám phá lệ gài “ý kiến cá nhân” vào đó ? Thật là một câu phê bình chết người đối với lãnh tụ Đảng và chính vì lo cho Đảng, vì “bảo vệ Đảng” nên một quần chúng cách mạng như Giáo sư Trần Thanh Đạm phải “thí mạng cùi” nhảy ra vạch trần “ những ý kiến cá nhân sai trái” của đồng chí Trưởng ban tư tưởng văn hoá để bảo vệ đường lối mác xít của Đảng. Tinh thần của Giáo sư Trần Thanh Đạm thật dũng cảm ghê gớm chưa ?

Trong bài phát biểu của mình, ông Nguyễn Khoa Điềm thẳng thắn thừa nhận :

“ Đúng là lý luận văn học của ta còn nhiều bất cập và thiếu hụt . Do hệ thống lý luận văn học này được sản sinh trong môi trường của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây…”

Trần Thanh Đạm cãi lại thủ trưởng :

“ Đúng là lý luận văn học của chúng ta trước đây chịu ảnh hưởng của các thành tựu lý luận văn học từ các nước xã hội chủ nghĩa ( trước hết là Liên xô)…song nói rằng lý luận văn học của ta sản sinh ra trong môi trường đó thì chỉ đúng có một phần…”

Rồi ộng ta cho rằng :

“ Nền lý luận văn học của ta…sản sinh ra từ đường lối lý luận và thực tiễn của cách mạng dân tộc , dân chủ và xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ 1930 và sớm hơn, từ đầu thế kỷ 20, thể hiện trong các văn kiện của Đảng : Trường Chinh , Lê Duẩn,, Phạm văn Đồng, Tố Hữu qua các đại hội văn nghệ và đại hội nhà văn , các tác phẩm lý luận của các nhà văn, nhà thơ lớn của chúng ta trong thế kỷ 20 như : Hải Triều, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh…và các nhà lý luận ưu tú khác …”

Trưng ra các cây đa cây đề trong “ nền phê bình lý luận cách mạng” theo cái lối mang ngoáo ộp ra doạ con nít , Trần Thanh Đạm có ý hạch tội rằng nói như Nguyễn Khoa Điềm thì còn đâu là tính sáng tạo và tính độc lập tự chủ của Đảng ta xưa nay vẫn được tuyên truyền rầm rĩ ra cả thế giới nữa.

Sau khi trưng ra ý kiến phát biểu của Nguyễn Khoa Điềm về lý luận văn học :

“ Hệ thống lý luận văn học của ta do phải tập trung cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội mà phần nào bỏ quên hoặc tránh đi những đặc trưng văn học, những vấn đề rộng lớn của văn chương và của con người …”

Ông Trần Thanh Đạm dám lên giọng “xách mé” :

“ Có lẽ khó quan niệm một chủ nghĩa xã hội gì mà văn học lại bỏ quên hoặc tránh né các vấn đề rộng lớn của văn chương và con người ?… Một chủ nghĩa xã hội như vậy còn xứng đáng được gọi là chủ nghĩa xã hội được hay không ?…Thực tế nước ta mới quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn phải “ tập trung cho giải phóng dân tộc, đánh thắng đế quốc xâm lược “ không thể phát triển và xây dựng một nền văn học như trong hoà bình”…thế nhưng nói rằng chúng ta né tránh hoặc bỏ quên các vấn đề đó thì không đúng…”

Táo tợn hơn, Trần Thanh Đạm phê phán sếp lớn :

“ Tôi cho rằng lý giải các yếu kém thiếu hụt của lý luận văn học chúng ta như diễn giả đã làm là có phần hời hợt , sơ lược, chủ quan , không trên cơ sở một nhận thức lịch sử thật chu đáo , thận trọng…”

rồi cả doạ nạt :

“ Kết cục của diễn biến hoà bình trong lĩnh vực tư tưởng văn hoá là bạo loạn lật đổ trên lĩnh vực chính trị xã hội. Những người cầm cờ , cầm lái không thể mơ hồ trong nhận thức của mình…”

Quả thực xưa nay , chưa ai dám công khai dạy dỗ “lãnh đạo Đảng “ trên phương tiện báo chí của Đảng nặng nề thế này. Trong bài phát biểu của Nguyễn Khoa Điềm có một luận điểm khá mạnh dạn, mới mẻ :

“ Lâu nay trong quan hệ giữa nội dung và hình thức chúng ta chỉ chú trọng những mặt nội dung mà xem nhẹ yếu tố hình thức , như vậy là chúng ta mới đề cập mặt xã hội của văn chương mà chưa thấy yếu tính của văn học là ngôn ngữ nghệ thuật …”

Sự thực, đây là một sự thừa nhận rất đáng biểu dương đối với một nhà lãnh đạo văn hoá văn nghệ cộng sản . Tuy nhiên đối với các lý luận gia “mác xít đến chiều” như Trần Thanh Đạm thì sự thừa nhận đó là đi chệch đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng cần kéo còi báo động :

“ Diễn giả đã “vơ đũa cả nắm” khi dùng đại từ “chúng ta “ ở đây, nếu nói “một số người trong chúng ta “ thì còn nghe được. Đó là những kẻ cơ hội, giáo điều , thậm chí ngu dốt trong văn học nghệ thuật …”

Ô hô, nói vậy khác nào chửi sếp lớn là cơ hội, giáo điều, ngu dốt ?

Hẳn ai cũng biết, những cây bút “quốc doanh” đặc biệt lý luận phê bình cả đời chỉ quyết làm cháu ngoan bác Mao, sống chết với tinh thần văn nghệ Diên An chẳng mấy thiện cảm với nhà văn Nguyễn Huy Thiệp – người cứ thích nói ngược những gì thiên hạ nói xuôi.

Trong con mắt các lý luận gia mác xít hơn cả cộng sản như Mai Quốc Liên, Trần Trọng Đăng Đàn, Trần Thanh Đạm…Nguyễn Huy Thiệp như một kẻ có tội, một con chiên ghẻ cần rút phép thông công, một kẻ “ngoại tình” cần ném đá, một tên “ăn cơm cộng sản thờ ma Việt kiều”…

Vì sao Thiệp trở thành “phần tử nổi cộm”, cái gai trong con mắt giới lý luận bảo thủ cực đoan như vậy ?

Thưa rằng xưa nay Thiệp vốn “ăn lộc” tối đa của Nhà nước, suốt một thời đổi mới cho đến nhiều năm sau, cả bộ máy tuyên truyền của Đảng “bốc thơm” Nguyễn Huy Thiệp lên mây xanh, trao ‘cây bút vàng” cho Thiệp trên khắp các mặt báo chí, sách, điện ảnh, truyền hình làm lu mờ cả những giá trị văn chương “cây đa cây đề “ . Ăn “lộc Đảng” nhiều vậy mà xem ra Thiệp không chịu ca ngợi Đảng lấy một câu gọi là ghi nhận mình cũng từ cái nôi văn hoá xã hội chủ nghĩa chui ra.

Đã không “trả nghĩa” cho Đảng thì chớ, Thiệp ngày càng ngoa ngoắt xỏ xiên . Bỏ qua những lỗi bôi bác lịch sử hoặc bôi đen xã hội như chuyện con dâu ông tướng hưu nhét cả thai nhi nấu cho chó ăn, trong vở kịch “ Suối nguồn êm dịu” vốn được bà Thuỵ Khuê ở đài RFI “tôn vinh” là “nhà thạch học”, tức sử gia không viết lên giấy mà khắc vào đá, Thiệp đã chơi lại cái mẹo “biểu tượng hai mặt’ của Nhân Văn ngày trước, bôi bác nhân vật lãnh tụ trong một xã hội “toàn trị” và bóng gió đề cao “Ông 2000” dễ thấy là biểu tượng của “ông” “Hiến chương năm 2000” mấy năm trước được phát động rầm rộ ở Paris đòi dân chủ, đa nguyên .

Không kể chuyện “đánh võ mồm” như trả lời phỏng vấn ở Pháp “ói mửa vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, trong truyện vừa “Tuổi 20 yêu dấu” , ông Thiệp chửi tuốt luốt cả từ nhà trường tới quốc hội, và trong “Chuyện trò với hoa thuỷ tiên” , Thiệp gọi đám nhà văn trong nước là bọn “giặc già” vừa bất tài, vừa tham lam vừa thất học…

Bị chửi ông chửi cha vậy mà Hội nhà văn Việt Nam vẫn im thin thít, ngay cả Tổng thư ký Hội Hữu Thỉnh vào những dịp đăng đàn diễn thuyết cũng…”ngó lơ”. Tình trạng nuông chiều , e nể Nguyễn Huy Thiệp làm các phê bình lý luận gia mao ít ngồi đầy trong các Viện nghiên cứu và các trường Đại học tức lộn ruột chỉ mong một ngày “hoàng đạo” nào đó sẽ tay dao tay thước xúm vào đánh đòn hội chợ. Nào ngờ, ngày ấy chưa đến, đã thấy Nguyễn Huy Thiệp chơi luôn một tiểu phẩm “ Mổ xẻ nhà văn” xỏ xiên các nhà phê bình chỉ muốn tiến thân bằng xác các nhà văn. Hành động đổ dầu vào lửa của Nguyễn Huy Thiệp càng nung nấu thêm “lòng căm thù” của giới lý luận “mác xít tới bến” chỉ chờ cấp trên gật đầu là xúm vào “bề hội đồng ”.

Vậy mà có ai ngờ, đồng chí Trưởng ban văn hoá tư tưởng Nguyễn Khoa Điềm chẳng những không phát lệnh “giết chết thằng Thiệp” lại còn khen ngợi Thiệp thì còn trời đất nào nữa hở …trung ương Đảng ?

Lẽ ra là người cầm cân nảy mực giữ gìn, bảo vệ tư tưởng của Đảng, ông Nguyễn Khoa Điềm phải nghiêm khắc “lên án” và vạch ra những tội lỗi của Thiệp, đằng này ngược lại đưa ra những luận điểm khá mới mẻ so với cái vốn có của Đảng khi khen ngợi và có ý “tha bổng” Thiệp :

” Có người đã nói anh Thiệp đã viết những điều trước nay chưa ai viết . Tôi thấy điều ấy không quan trọng lắm. Về mặt nội dung, có những điều anh Thiệp sai nhưng về mặt đổi mới ngôn ngữ nghệ thuật thì anh Thiệp lại có nhiều đóng góp…Ở vào thời điểm mang tính chuyển đổi thì nhiều lúc hình thức lại mang tính cách mạng của nó…”

Vậy là những điều Nguyễn Huy Thiệp viết dù xưa nay chưa ai dám viết cũng chẳng là cái gì phải làm ầm ĩ lên, cái chính là Thiệp đổi mới ngôn ngữ nghệ thuật. Ông trùm văn hoá đã nói vậy tức đã “tha bổng” Thiệp. Lập tức Trần Thanh Đạm dám xổ toẹt quan điểm của đồng chí Trưởng ban tư tưởng :

“ Không cần phải là nhà lý luận uyên thâm gì cũng có thể thấy nhận định của tác giả về Nguyễn Huy Thiệp là không chính xác, là tách rời nội dung với hình thức, tách rời ngôn ngữ nghệ thuật với tư tưởng nghệ thuật…”

Và to gan lớn tiếng mắng mỏ ông Ủy viên Bọ chính trị dốt lý luận :

“ Có lẽ do chưa nhận thức rõ về mặt lý luận cũng như thực tiễn nên diễn giả đã tiếp cận các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp một cách siêu hình , tách rời máy móc nội dung và hình thức…”

Rôi bằng một giọng đay nghiến, khinh khỉnh hoàn toàn ngược với giọng cấp dưới với cấp trên, Trần Thanh Đạm tuôn ra liên hồi những lời lẽ đả phá mạnh mẽ ý kiến của Nguyễn Khoa Điềm :

“ Há rằng “ phi anh hùng hoá “ một ông tướng về hưu , “ phi thần tượng hoá một anh hùng dân tộc vv…chỉ là đổi mới và đóng góp cho ngôn ngữ nghệ thuật hay sao ? “

Táo tợn hơn , đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, một ông Trưởng ban văn hoá tư tưởng bị kết tội công khai trên báo :

“ Trong khi một số nhà văn, nhà phê bình lên án những ngôn luận xằng bậy của anh Thiệp đối với các văn hữu trong Hội nhà văn thông qua các bài như : Hoa thuỷ tiên, Mổ nhà văn, Tuổi 20 yêu dấu v…v…thậm chí xúc phạm đến cuộc kháng chiến dân tộc thì đồng chí Nguyễn Khoa Điềm hình như có ý muốn che chắn cho Nguyễn Huy Thiệp …”

Hơn thế nữa ông Nguyễn Khoa Điềm còn có một bước tiến đổi mới khá xa so với những người tiền nhiệm khi ông phát biểu :

“ Người nghệ sĩ có tư chất và thẩm quyền của họ , không nên buộc họ lệ thuộc quá nhiều vào thực tại…”

Nghĩa là không nên ép uổng nhà văn viết “người thực việc thực”,”người tốt việc tốt”, không nên bắt buộc nhà văn phải “đi thực tế” dựng nên “bức tranh hào hùng về cuộc sống sản xuất và chiến đấu của nhân dân ta “ . Vậy là Đảng đã “cởi trói’ cái nghĩa vụ “phi sáng tạo “ cho nhà văn, đồng thời còn thừa nhận “thẩm quyền” của người cầm bút.

Vớ được câu này, Trần Thanh Đạm mừng rỡ chẳng khác hải quan khám ra hàng lậu. Lẽ ra mang danh nhà nghiên cứu, Trần Thanh Đạm phải nhiệt liệt ủng hộ những tín hiệu đổi mới của ông Nguyễn Khoa Điềm, ngược lại đưa ra những phản đối cũ rích :

“ Người nghệ sĩ không phải lệ thuộc quá nhiều vào thực tại , song tôi nghĩ người nghệ sĩ chân chính nào cũng quan tâm đến con người và cuộc sống, có trách nhiệm với thực tại chứ không chỉ biết có tư chất và thẩm quyền của mình…”

nghĩa là Trần Thanh Đạm vẫn đề cao cái “nghĩa vụ xã hội” , cái trách nhiệm “tổ chức quần chúng của Đảng” vốn là tôn chỉ của Hội nhà văn Việt nam. Nguy hiểm cho ông Nguyễn Khoa Điềm hơn nữa khi ông nói :

“ cần tránh khuynh hướng cực đoan khi xem xét văn học chỉ như một sáng tạo nghệ thuật thuần tuý và văn học chỉ như một vũ khí chính trị …”

ngay lập tức, Trần Thanh Đạm mang cả “lời Bác dậy” để dằn mặt :

“ Văn hoá nghệ thuật không ở ngoài mà ở trong kinh tế và chính trị”.

Vậy đừng có tơ lơ mơ, chính trị bao giờ cũng là ‘thống soái” ,thế là Trần Thanh Đạm tiếp tục tiến lên, tiến lên ta quyết tiến lên, tiến lên ta gọi cấp trên bằng…thằng. Tuy Đạm chưa dám gọi đồng chí Nguyễn Khoa Điềm bằng thằng nhưng đã lớn tiếng mắng mỏ :

“ chưa bao giờ văn học và chính trị rời xa nhau nửa bước, chỉ những kẻ tự lừa dối mình hoặc lừa dối người khác mới không trông thấy hoặc giả vờ không trông thấy …”

Rồi đao to búa lớn, Đạm khẳng định lại cái “vòng kim cô” vẫn úp trên đầu các nhà văn :

“Khẩu hiệu của Hội nhà văn Việt Nam và của báo Văn Nghệ là :” Vì Tổ quốc , vì Chủ nghĩa xã hội” là một cam kết chính trị trung thực , thẳng thắn và đẹp đẽ. Theo tôi đó là ngọn cờ chính trị và chính nghĩa của văn học Việt Nam hiện đại…”

Và sau hết Đạm nổi còi báo động :

“ Mưu mô “diễn biến hoà bình “ khởi đầu từ trận địa văn hoá tư tưởng trong đó có văn học nghệ thuật , truyền bá và thẩm thấu các các quan niệm sai trái về nghệ thuật , nhân danh cái đẹp mơ hồ , trừu tượng để nguỵ trang sự lừa dối , cái ác , cái xấu , nhằm làm hủ bại đạo đức tư tưởng của chúng ta và con cái chúng ta…”

Suốt bài viết Đạm không hề nhắc tới chức vụ Uy viên Bộ chính trị, Trưởng ban tư tưởng văn hoá của Đảng của ông Nguyễn Khoa Điềm làm người ta không thể không đặt câu hỏi :

” Ai đang đứng sau Trần Thanh Đạm và tạp chí Văn của Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh , nhất trong hình hình cuộc đấu đá ngày càng gay cấn khi Đại hội Đảng đang tới gần ?”

Tất nhiên nếu đồng chí Trưởng ban tư tưởng văn hóa Nguyễn Khoa Điềm vẫn ngồi vững trên ghế ngay cả khóa sau thì Trần Thanh Đạm có uống cả ký “mật gấu” cũng không dám “mó dái ngựa” . Cả cái tạp chí “Văn” của Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh cũng vậy, nếu không đánh hơi thấy sếp cũ sắp đi, sếp mới sắp về thì dù có lệnh của tuyên huấn thành ủy cũng không dám “cãi cấp trên” vốn là điều tối kỵ trong “sổ tay phóng viên”.

Vì sao đồng chí Trưởng ban tư tưởng văn hóa Nguyễn Khoa Điềm lại “đốc chứng” vậy ngay khi còn tại vị ? Ngày nay trong kinh tế người ta hay nói tới thuật ngữ “tái cấu trúc” tức là sắp xếp, tổ chức lại để xí xóa mọi chuyện tham ô, tham nhũng. Các nhà văn, nhà lý luận văn học vào cuối đời cũng có mốt “tái nhận thức “ kiểu như Chế Lan Viên với “ Bánh vẽ”, Nguyễn Khải với “ Đi tìm cái tôi đã mất”, Nguyễn Dình Thi với “bài thơ gửi lại “…có tính cách “phản tỉnh”, “nghĩ lại những điều đã nghĩ”.

Khác với họ, Nguyễn Khoa Điềm sớm “tái nhận thức” vào cuối nhiệm kỳ và chắc cũng đã biết ngày trở về cố đô Huế cũng sắp tới.

Qua trường hợp Nguyễn Khoa Điềm, người ta thấy được cái khó của các “nhà lãnh đạo tư tưởng “ Việt Nam . Giữa một biển cán bộ mênh mông, ý thức hệ còn sặc mùi mao-ít, ông Nguyễn Khoa Điềm có muốn đổi mới, rũ bỏ những cái cũ kỹ và lỗi thời, thực sự ông phải đương đầu với cơn bão bảo thủ ghê gớm cả trong Đảng lẫn ngoài xã hội, đòi hỏi ở ông lòng dũng cảm và tâm huyết thật sự vì dân vì nước là cái chưa thấy ở ông .

Từ dạo quay về làm dân ở Huế, tuy nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm – sống rất lặng lẽ và kín tiếng. “Bây giờ tôi chỉ còn chường cái mặt tôi ra trong thơ”, nhưng dường như ông vẫn tiếp tục “tái nhận thức”. Tháng 6 -2011, trả lời phóng viên báo Lao Động, ông nói những câu khối anh phải giật mình :

“ Bài trừ tất cả các loại văn hoá liên quan tới phong kiến, thực dân… chúng ta đã cắt đứt quá khứ, cắt đứt sâu chừng nào thì được cho là có quan điểm lập trường tốt chừng đó. Đó là một thái độ rất nguy hại.”

“ Thơ thì phải nói thật lòng mình, không thể giấu mình, không thể nói dối… Việt Nam chúng ta lại quan niệm văn học là đạo lý, trách nhiệm… nên gò bó sự sáng tạo cũng như hạn chế sự thổ lộ. Trong khi văn chương phải thể hiện cái đẹp nội tâm của con người. “Vì vậy tôi đã nghỉ hưu, nhưng nhiều người lãnh đạo mong tôi phải thế này thế kia, phải làm thơ ngợi ca, phải hô hào tiến lên… Vừa rồi khi tôi công bố một số bài thơ trên báo sau khi về Huế, có rất nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí có người chê trách tôi “đổi giọng”, nhưng tôi không quan tâm…

Tuy nhà thơ không quan tâm nhưng chắc độc giả thì chờ đợi ông tiếp tục “đổi giọng” như thế. Nhà thơ Xuân Sách dường như chưa nhận ra quá trình “tái nhận thức” của Nguyễn Khoa Điềm nên viết chân dung khá đơn giản :

Một mặt đường khát vọng
Cuộc chiến tranh đi qua
Rồi trở lại ngôi nhà
Đốt lên ngọn lửa ấm
Ngủ ngoan A kai ơi
Ngủ ngoan A kai ời…

Nhật Tuấn

8-2-2012

Theo Blog Nhật Tuấn
Ý kiến bạn đọc
07 Tháng Ba 201912:24 CH
Khách
“Bây giờ tôi chỉ còn chường cái mặt tôi ra trong thơ” là câu nói không nên có ở anh Điềm, vì:
- Anh Điềm không phải là THƯỜNG DÂN mà từng là(Chức vụ cao của anh thì tôi xin không nhắc, vì ai chả biết) và bây giờ các CHỨC VỤ ĐÓ VẪN CÒN ĐƯỢC GẮN CHỮ “NGUYÊN” đấy chứ
- Nó thể hiện sự “Coi thường” của anh Điềm về “công việc làm thơ”, việc mà anh đã nổi tiếng từ đó và chính anh cũng từng đề cao nó trong cương vị “Tư lệnh VH của Đảng”. Chí ít thì, Thơ đâu phải là chỗ bị gọi là để “Chường mặt”, mấy ai đã xuất hiện nổi trên thi đàn với tư cách “Nhà Thơ và Thơ chân chính- đích thực”. Với ai có thể nói câu đó, chứ với anh Điềm, người đã từng vị trí “siêu cao” trong Đảng, trong bộ máy lãnh đạo VHVN Nước ta, câu nói đó rất không hợp.
- Nó thể hiện sự TIẾC NUỐI của anh về NGÔI VỊ CŨ chăng. Câu nói trên của anh có khác gì câu đầy đủ sau: Trước đây tôi CHƯỜNG MẶT TRÊN MỌI VŨ ĐÀI: VŨ ĐÀI CHÍNH TRỊ, VŨ ĐÀI VĂN HÓA, VĂN NGHỆ RỘNG LỚN, “Bây giờ tôi chỉ còn chường cái mặt tôi ra trong thơ”.
- Mong anh ‘NỀN NÃ VÀ NÊN THƠ” như SÔNG HƯƠNG anh ạ
Lê Sỹ Thiệp
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn