BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 36518)
(Xem: 33525)
(Xem: 33223)
(Xem: 24855)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Văn Chương Phản Tỉnh: Thực? Giả?...

29 Tháng Bảy 200712:00 SA(Xem: 509)
Văn Chương Phản Tỉnh: Thực? Giả?...
53Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
53
Có người nhận xét nền văn học Cộng sản là một phương tiện để phục vụ cho chế độ. Trong ấn định của đề cương văn hóa, người viết là một thành phần của tổ chức chặt chẽ, được lãnh đạo và kiểm soát của Đảng với đường lối chỉ đạo thống nhất.

Cái nền văn học gọi là văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, theo lời cụ Nguyễn Mạnh Tường, chỉ là cái chuồng giam chật hẹp giam hãm người nghệ sĩ. Trong cái không gian tù túng, thì sáng tạo cũng khó có cơ hội để phát huy.

Sang thời đổi mới của Nguyễn Văn Linh lại dùng chữ cởi trói cho văn nghệ. Chính những người lãnh đạo chế độ cũng thừa nhận có sự buộc trói văn nghệ. Và giây trói chính là những giáo điều công thức cứng nhắc, là những biện pháp đàn áp thô bạo, là những ràng buộc giam hãm, là phương cách đánh rồi xoa rồi lại đánh.. Người cầm bút trong hoàn cảnh đặc biệt như vậy, chắc chắn trong lòng phải chất chứa nhiều nỗi niềm. Văn chương trong nước, như mặc chung một bộ đồng phục, cái chung thì nhàm chán công thức và cái riêng thì lẻ loi mờ nhạt, để tạo thành một nền văn học đơn điệu, nghèo nàn, mà cái giả nhiều khi nhập nhằng thành thật và cái thật thì bị bóp méo hoặc bôi xóa đi. Chân, thiện, mỹ không còn là những bản vị để đánh giá văn chương. Mà thay vào đó, là những yếu tố ấn định từ nhu cầu chính trị. Người nào đi ngược lại đường lối, bị tiêu diệt ngay với những biện pháp tàn bạo và thâm độc. Sự tình ấy, gây ra một không khí khủng bố, và, mọi người đầu bị ám ảnh bởi cái sợ lúc nào cũng canh cánh trong lòng.

 

Nguyễn Minh Châu


 Do đó, thỉnh thoảng lại có những vụ án văn học, và những nạn nhân của văn tự ấy mang cái tội không án nhưng còn kinh khiếp hơn cả cách tru di tam tộc của thời phong kiến. Sự khủng bố công an trị đã làm cả một xã hội phải thu mình lại và cái sợ đã trở thành cố nhiên đối với những văn nghệ sĩ. Nguyễn Minh Châu, nhà văn, đại tá của QĐ Cộng sản kể chuyện một nhà văn đàn anh (ám chỉ Nguyễn Tuân) một lần nâng chén rượu lên môi với các bạn văn nhỏ tuổi hơn "Tao còn sống đến bây giờ là nhờ biết sợ". Nói rồi ngửa mặt lên trời cười rung giường, nước mắt tuôn lã chã, giọt đổ xuống đất giọt rơi vào lòng. Rồi Nguyễn Minh Châu lại kể chuyện một nhà thơ lớn như Xuân Diệu mà khi viết bộ "Các nhà văn cổ điển Việt Nam" cũng phải rào trước đón sau, làm phên che giậu đỡ rồi mới dám viết.

Cho nên trong bài "Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh họa", ông viết: "Tài năng, nhất là những thiên tài, bao giờ cũng như là của bắt được, của trời cho, ai mà biết được bao giờ thì họ đến, nhiệm vụ của chúng ta là chuẩn bị bầu không khí cho họ thở, cho họ sống, đừng giết chết họ, đừng ghen tị với họ, đừng làm họ thui chột trí tuệ lẫn tình cảm, đừng khiến họ cuối cùng trở thành chúng ta.."

Mà, chúng ta là ai? Là "cũng trong một con người cầm bút, có khi cái phần bất tài nhảy lên bục tao đàn để múa may, còn cái phần tài năng thì trùm chăn nằm chờ ngày xuống mồ.."

Không biết Nguyễn Minh Châu có quá lời hay không nhưng trong một môi trường không tự do, lúc nào cũng nem nép sợ "phạm trường quy" thì làm sao văn chương đi xa và đào sâu được. Hơn nữa, lại gây ra trong lòng người cầm bút những mặc cảm, thành sự chán chường u uất. Họ phải chọn lựa con đường mà họ gọi là "phải đạo", nghĩa là đu giây giữa cái tốt và cái xấu. Có khi họ trở thành văn nô nếu cái danh và cái lợi là miếng mồi béo bở. Nhưng, nếu còn chút sĩ khí, thì cũng không tránh khỏi ngậm ngùi. Giấc mơ tự do sáng tác xem ra xa vời. Xa lắm...

Cũng Nguyễn Minh Châu, cho rằng đường lối chỉ đạo hẹp hòi và thô bạo khiến cho người cầm bút phải chịu đựng một tình cảnh "rất thảm đối với nhân cách của một người văn nghệ sĩ". Ông viết: "văn chương gì mà muốn viết một câu trung thì phải viết một câu nịnh? Hèn, hèn chứ? Nhà văn nước mình tận trong tâm can ai mà chẳng thấy mình hèn? Cái sợ nó làm mình hèn.."

Trăn trở, suy nghĩ, tự xét lại, phản tỉnh, có thể đó là tình trạng chung của người trí thức. Nhưng, có khi cái giả và cái thật chen nhau đến khó phân biệt. Có khi, là phản ứng thật, của nỗi bức bối phát tiết ra. Và, cũng có khi là của giả. Của những thái độ tính toán trước để che lấp những lỗi lầm của bản thân mình.

Một trường hợp điển hình là Tố Hữu. Một ông quan văn nghệ, lãnh đạo giới cầm bút trong nước và biết bao nhiêu người bị chịu những oan sai đau khổ vì bị hành hạ theo chỉ thị của ông ta. Một nhà văn trẻ, là thương binh, tên là Hoàng Cát, chỉ vì phạm húy khi viết truyện ngắn "Cây táo của ông Lành" mà bị vùi dập, cả đời bị khốn khó, theo dõi vì cái vết tích tì tịch văn chương. Về sau, Hoàng Cát đã kể lại những quãng đời khốn khổ của mình suốt mấy chục năm bị trù úm đầy đọa. Và còn nhiều người nữa với những vụ án văn tự như Hà Minh Tuân, như Lý Phương Liên, như Nguyễn Dậu, như Phù Thăng,.. cũng do bàn tay của Tố Hữu dính vào. Và rõ ràng nhất là chiến dịch "Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước tòa án dư luận" với những biện pháp răn đe tàn bạo không án tích không giấy tờ, chỉ là lệnh miệng thôi mà làm bao nhiêu người, bao nhiêu gia đình khốn khổ.

Nhà văn Hoàng Tiến trong bài Sự Thật Ở Đâu đã viết: "nhà thơ Hoàng Cầm kể rằng, nhà văn tướng quân Trần Độ trưởng ban Văn Hóa Văn Nghệ của Đại Hội Đảng lần thứ 6, tổng bí thư lúc ấy là ông Nguyễn Văn Linh, người đã giúp tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố những câu đáng ghi vào lịch sử văn nghệ "cởi trói cho văn nghệ sĩ", "các văn nghệ sĩ hãy tự cứu lấy mình", "không bẻ cong ngòi bút", "dũng cảm trình bày sự thực"..

Trong cái không khí cởi mở ấy qua nghị quyết 5/BCT về văn học nghệ thuật, nhà văn Trần Độ có đến gặp Tố Hữu và hỏi ông về thái độ đối với anh em Nhân Văn Giai Phẩm bấy giờ. Nhà thơ Tố Hữu với giọng trọ trẹ xứ Huế đã nói "Rất tiếc! Rất tiếc! Hồi ấy tôi đã không tiêu diệt hết chúng nó đi." Trên đường về ông Trần Độ có rẽ vào thăm ông Hoàng Cầm có kể lại câu chuyện trên. Ông Hoàng Cầm đến nay còn sống, yếu lắm rồi, hiện ở số nhà 43 phố Lý Quốc Sư, Hà Nội. Ai có thắc mắc, xin đến đấy hỏi, kẻo rồi ông Hoàng Cầm đi mất, lại thành tam sao thất bản.."

Tố Hữu đã được Xuân Sách mô tả:
"ta đi tới đỉnh cao muôn trượng
mắt trông về tám hướng phía trời xa
chân dép lốp bay vào vũ trụ
lúc trở về ta vẫn là ta!
Từ ấy trong tôi bừng tiếng hát
Trông về Việt Bắc tít mù mây
Nhà càng lộng Gió thơ càng nhạt
Máu ở chiến trường Hoa ở đây."

Xuân Sách đã dùng tên nhan đề những tập thơ của Tố Hữu: Ta Đi Tới, Việt Bắc, Gió lộng, Việt Nam Máu và Hoa.. đểnói về tác giả của nó: tham vọng, thủ đoạn, giả dối, chức thì lớn nhưng thơ thì nhạt, bởi cái tâm không tốt.

Tố Hữu cũng là một mẫu người "nịnh trên nạt dưới" đã viết những câu thơ ô nhục như viết thơ khóc lãnh tụ đỏ Stalin: "Tiếng đầu lòng, con gọi Stalin... Thương cha, thương mẹ,thương chồng / thương mình thương một, thương ông thương mười". Và, trong đám nịnh thần làm thơ tôn vinh Hồ Chí Minh có Tố Hữu đứng đầu:
"nhớ chân người bước lên đèo
Người đi rừng núi
Trông theo bóng người
Lòng ta ơn Bác đời đời.."

Hay
"Bác ơi tim Bác mông mênh thế
Ôm cả non sông, mọi kiếp người
.. Bác để tình thương cho chúng con
một đời thanh bạch chẳng vàng son
mong manh áo vải hồn muôn trượng
hơn tượng đồng phơi những lối mòn..."

Con người Tố Hữu là như thế nhưng cũng có lúc nghĩ lại. Gọi là trăn trở một chút, phản tỉnh một tị. Đọc Bài phỏng vấn "Gặp Tố Hữu tại biệt thự 76 Phan Đình Phùng" của Nhật Hoa Khanh sẽ thấy. Bài này được đăng thành nhiều phần nhỏ trong các báo khác nhau như Quân Đội Nhân Dân, Tiền Phong Chủ Nhật, Người Hà Nội.. bài phỏng vấn này thực hiện năm 1997, nhưng đến khi được phổ biến thì bị bà Vũ Thị Thanh là vợ của ông Tố Hữu phủ nhận cho đó là những tài liệu giả mạo "pha chế nhiều ý kiến riêng, mượn danh Tố Hữu, biến Tố Hữu thành người phát ngôn cho ý mình khi phát hành cuốn sách "Tố Hữu - Người Cộng sản kiên trung, nhà văn hóa tài năng".

Thực hay giả, đúng hay sai chỉ có người đã nằm dưới mồ là Tố Hữu và người phỏng vấn là Nhật Hoa Khanh biết mà thôi. Nhưng, tại sao giả mà lại được các tờ báo coi như chính thống của Đảng phổ biến và Nhật Hoa Khanh trước sau im lặng không trả lời. Hình như có một điều gì bất thường.

Có người cho đó là một phản tỉnh của Tố Hữu. Lúc bị thất thế, suy nghĩ của ông ta đã thay đổi, như những bài thơ sau này bớt giọng sắt máu hoặc những câu chuyện Phùng Quán kể khi đến thăm ông tại nhà.

Đọc bài phỏng vấn, độc giả sẽ thấy có một Tố Hữu khác, một người khác xa với hình ảnh của một đồ tể văn học, một ngươì làm thơ có tâm hồn nhân ái, một trí thức có đầu óc phóng khoáng cởi mở, một nghệ sĩ trân trọng chữ nghĩa và tôn trọng những người cầm bút. Nhắc đến những người mà hồi trước là nạn nhân của ông, là đích nhắm để ông hành hạ, thì ông lại khen ngợi không tiếc lời. Với những người mà hồi trước ông lên án và nguyền rủa như Phan Khôi, Trần Dần, Văn Cao, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Lê Đạt, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang.. thì bây giờ ông lại đề cập đến với những lời nồng hậu nhất. Không hiểu, có muộn màng không? Với những người đã chết vì bị đày đoạ...

Trong bài phỏng vấn, Tố Hữu nói: ".. Họ tung tin ông Tố Hữu chỉ đạo ban nọ ban kia hoặc báo này báo khác "đánh" Búp Sen Hồng mà tôi vừa nói ở trên. Họ dựng đứng chuyện ông Tố Hữu cắt bỏ câu "Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp trong bài thơ Hoan hô chiến sĩ Điện Biên. Họ ném hỏa mù: ông Tố Hữu "đánh" Quang Dũng, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Nguyễn Bính, Nguyễn Tuân, Văn Cao, Nguyên Hồng, Tô Vũ, Phùng Quán, Phùng Cung, Trương Tửu, Phan Khôi, Đào DuyAnh, Phan Ngọc, Nguyễn Hữu Đang, Đặng Đình Hưng, Nguyễn Mạnh tường, Trần Đức Thảo,...Họ vu khống Tố Hữu đánh cả Nguyễn Đình Thi, chỗ ngồi của anh Nguyễn Đình Thi ở đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ ba là do Tố Hữu quyết định.."

Có nghĩa là bọn xấu "cáo mượn oai hùm" nó làm và Tố Hữu không có trách nhiệm gì hết!!! Hơn thế nữa, còn khen ngợi nữa kia. Như nói về Văn Cao: "Văn Cao còn là một nhà thơ xuất sắc, một họa sĩ độc đáo, một nghệ sĩ suốt đời trung thành với dân tộc và với Đảng.."

Nói về Quang Dũng và Hoàng Cầm:

"Cần đánh giá lại, đánh giá thật cao giá trị thơ Quang Dũng trong nền thơ Việt Nam hiện đại. Quang Dũng là một trong những các nhà thơ đàn anh trong văn học Việt Nam thế kỷ 20. Cũng cần nói thêm, Quang Dũng còn là một nhà văn sắc sảo về nội dung và điêu luyện về ngôn ngữ..."

'... Hoàng Cầm ngời sáng cả trên lãnh vực thơ lẫn kịch bản thơ. Chưa kể anh còn là một trong những nghệ sĩ ngâm thơ vào loại vô địch không kém gì Phùng Quán."

Nói về Trần Dần:

"Cũng như thơ Quang Dũng và Hoàng Cầm, thơ Trần Dần có nhiều đổi mới về nội dung và nghệ thuật, đồng thời là tấm gương phản chiếu tâm hồn dân tộc và phản chiếu cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam. Văn xuôi của anh. Người người lớp lớp, về căn bản có giá trị hiện thực chiến đấu rất cao, Người người lớp lớp, là một khẩu pháo binh chúng pháp của văn học Việt Nam thế kỷ 20. Nên sớm tái bản.."

Nói về Phan Khôi:

"Về cụ Phan Khôi, phải đánh giá lại. Không thể quên được hình ảnh gương mẫu và nồng nhiệt của cụ trong đội quân văn nghệ kháng chiến chống Pháp. Không thể bỏ qua được những kết quả của cụ trong việc đổi mới thơ Việt Nam trước khi xuất hiện phong trào thơ mới. Phan Khôi còn là một học giả về văn học trung Quốc. Muốn hay không, cụ cũng đã có một vị trí xứng đáng trong lịch sử văn học nước ta thế kỷ 20.."

Nói về Nguyễn Hữu Đang:

"Suýt nữa tôi quên mất anh Nguyễn Hữu Đang người được bác Hồ trao cho nhiệm vụ trọng đại Trưởng ban Tổ Chức lễ Tuyên Ngôn Độc Lập mồng 2 tháng 9 năm 1945. Anh Đang suốt đời trung thành với bác Hồ và với lý tưởng Độc lập Tự Do của dân tộc. Anh Đang đóng góp nhiều cho cách mạng những đóng góp lặng lẽ. Anh Đang có nhiều hy sinh đáng quý. Những hy sinh ấy chính là tấm gương ngời sáng treo cao trước mặt chúng ta.."

Thực? Giả? Có phải đó là trăn trở phản tỉnh của Tố Hữu hay chỉ là sự vớt vát, hỏa mù? Nếu là thật thì bao nhiêu việc làm từ trước của Tố Hữu có hậu quả tồi tệ ra sao? Thành ra, có thể đó là những lời phản tỉnh của Tố Hữu, nhưng sau khi ông từ trần đem ra phổ biến thấy không có lợi cho Đảng nên mới có sự phủ nhận. Dẫu sao, dù thực hay giả, sự kiện này cũng nói lên được cái hại của sự chuyên chế đối với dân tộc ở cả mọi phương diện kể cả văn chương...

Một trường hợp phản tỉnh khác, nửa hư nửa thực là Chế Lan Viên với Di Cảo Thơ. Ông Chế là một trong những nhà thơ đứng đầu của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trước 1945, ông nổi tiếng với tập thơ Điêu Tàn, có một phong vị văn chương khác với mọi người với ngôn ngữ và ý tưởng gợi lại một thời đại nào của một dân tộc Hời suy vi tăm tối và bị diệt vong. Nhưng đi xa hơn, thơ của ông cũng làm chạnh nhớ tới tình trạng của dân tộc Việt đang bị Thực dân Pháp đô hộ. Sau 1945, Chế lan Viên là một nhà thơ có nhiều tập thơ được coi là có giá trị nghệ thuật. Với loại thơ chính luận, ông tạo được sự thành công nhất là phù hợp được với đường lối và quy định của văn học của Đảng đề ra. Xuân Sách phác họa chân dung Chế Lan Viên:
"Điệu Tàn ư? Đâu chỉ có Điêu Tàn
Ta nghĩ tới Vàng Sao từ thuở ấy
Chim Báo Bão lựa chiều cơn gió dậy
Lựa Ánh Sáng trên đầu
Mà thay đổi sắc Phù Sa
Thay đổi cả cơn mê
Ai dám bảo con tàu không mộng tưởng
Lòng cũng như tàu ta muốn uống
Mắt anh em trong suối cạn Hội Nhà Văn."

Điêu tàn, Vàng Sao, Chim Báo Bão, Ánh Sáng và Phù Sa, là tên những tập thơ của Chế Lan Viên. Hình như, Xuân Sách muốn ví họ Chế như một con tắc kè, biết thay đổi màu sắc trên bộ da của mình tùy trường hợp. Và, thâm ý còn muốn ví ông như một nhà thơ cơ hội, lựa chiều gió để nương theo tạo danh vọng..

Chế Lan Viên viết Di Cảo Thơ, cũng có nhiều bài suy tư về thân phận của người nghệ sĩ trong một thời đại bây giờ. Nhưng, có nhiều người xổ toẹt và coi đó như một món hàng mạo hóa. Nguyễn Duy, khi sang Mỹ du lịch khi được hỏi về Di Cảo Thơ thì nói một câu: "Đến chết rồi mà Chế Lan Viên còn chơi một "quả" đích đáng. Ông còn muốn lừa cả chính ông ta.."

Đọc Di cảo Thơ, những bài như Bánh Vẽ, như Trừ Đi..., thấy được tâm sự. Nhưng, có phải thật lòng không, thì không ai đoan chắc. Ở một xã hội, mà nói láo là chuyện tự nhiên thì có khi người nói láo tưởng mình nói thật.

Bài Bánh Vẽ:
"Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
thế mà anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
cầm lên nhấm nháp
chả là nếu anh từ chối
chúng sẽ bảo anh phá rối Đêm vui!
Bảo anh không còn có khả năng nhai
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc
Thế thì còn đâu dịp nhai thứ thiệt
Rốt cuộc anh ngồi lại vào bàn
Như không có gì xảy ra hết
Và những người khác thấy anh ngồi
Họ cũng ngồi thôi
Nhai ngồm ngoàm."

Đọc Bánh Vẽ, nhớ lại câu nói của Hoàng Ngọc Hiến khi giải thích về những hiện tượng ngược đời có vẻ phi lý mà là sự thực ở Việt nam: "ở nước ta nó thế". Khi cái thực và giả không phân biệt, khi dối trá là phương tiện để cai trị dân chúng, thì Bánh vẽ của Chế Lan Viên đề cập hay cái "khải hoàn môn" chiến tranh mà Dương Thu Hương nói đến trong Tiểu Thuyết Vô Đề, cũng là chuyện bình thường..

Đọc bài Trừ Đi với phụ chú "sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ":
"Có phải tôi viết đâu? Một nửa
cái cần viết vào thơ tôi đã giết đi rồi
giết một tiếng đau, giết một tiếng cười
giết một kỷ niệm, giết một ước mơ
Tôi giết cái cánh sắp bay..trước khi tôi viết
Tôi giết bão táp ngoài khơi
Cho được yên ổn trên bờ
Và giết luôn mặt trời lên trên biển
Giết mưa và giết luôn cỏ mọc trong mưa luôn thể
Tôi viết bằng xương thôi không có thịt của mình
Và thơ này rơi đến tay anh
Anh bảo đấy là tôi?
Không phải!
Nhưng cũng chính là tôi - người có tội
đã giết đi bao nhiêu cái
có khi không có tội như mình".

Di Cảo Thơ, có phải là những trăn trở thực sự cuối đời hay chỉ là những giả dối để hy vọng những đời người sau bỏ quên đi những lầm lỗi một đời. Chế lan Viên đã mang kỹ thuật của ngôn ngữ ở trình độ cao của ông để bù đắp vào cái tâm có lẽ không trong sáng lắm. Có người nói, tài thì làm chi vì "cái tâm kia mới bằng ba cái tài"!!..

Bây giờ, ở trong nước đã đổi mới. văn học, cũng có nhiều thay đổi. Nhưng, xem ra cũng chưa được khả quan mấy. Tự do sáng tác xem ra vẫn còn xa vời. Vẫn còn những chuyện chỉ đạo văn chương. Vẫn còn chuyện người cầm bút là một thứ công chức, ăn lương Hội Nhà Văn và Hội Nhà Văn là một cơ quan đặt ra để kiểm soát văn nghệ sĩ. Và, vẫn có nỗi niềm ấp ủ, vẫn có những bức xúc trước tình cảnh văn học hiện nay. Phản tỉnh hay phản kháng, cũng là một phản ứng tất nhiên của người cầm bút có sĩ khí...

Nguyễn Mạnh Trinh
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn