BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 34530)
(Xem: 32891)
(Xem: 31240)
(Xem: 24418)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Ngày Đợi Sáng

28 Tháng Ba 201212:00 SA(Xem: 670)
Ngày Đợi Sáng
51Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
51
Quay tơ dệt lụa đất Mã Châu
Riêng tặng người yêu thuở ban đầu.


 I.Ráng chiều nhạt nắng. Dòng sông Thu Bồn tắm mình trong vùng ánh sáng đỏ quạch của hoàng hôn, đang chuyển dần qua màu vàng rực rỡ. Mặt sông trong thời điểm giao tiếp giữa hai vùng ánh sáng vừa chói chang, vừa nhạt nhòa như huyền ảo, lung linh hẳn lên. Một chiếc thuyền nan mong manh nhẹ khua mái chèo. Những gợn sóng nhỏ như dát bạc đuổi nhau lăn tăn qua lại hai bên bờ, tạo cảnh sắc trở nên linh động một cách kỳ ảo. Buổi chiều nơi thôn dã thật tuyệt diệu và đẹp vô ngần.

 Thuyền nhẹ trôi, trên thuyền chỉ có hai người đàn ông. Trái ngược hẳn với cảnh trí nên thơ, mặt buồn dàu dàu. Người đứng dáng hiên ngang, mặc quân phục rằn ri tay áo xăn cao, chiếc bê-rê màu nâu đội lệch, trông vừa phong trần vừa nghệ sĩ, ngước nhìn đỉnh Hòn Kẽm. Đỉnh núi như bốc lửa trong ánh nắng đỏ chói chang của chiều tà. Người còn lại trông có vẻ nghèo khổ, bộ quần áo nông dân cũ kỹ vá chùm vá đụp, râu tóc bơ phờ, khuôn mặt hốc hác đầy vẻ ưu tư đau khổ, ngồi ở đầu mũi thuyền khua nhẹ mái chèo. Hai người im lặng không nói với nhau một lời. Trời chiều xuống dần. Mãi đến lúc có tiếng pháo binh bắn đi từ hướng đồn Hòn Bằng, họ mới bừng tỉnh. Người lính lên tiếng trước:

 - Bạn nói đi chứ, sự thật ra sao? Có phải bạn vì mẹ hay vì một lý do thầm kín gì khác mà không chịu ra đi?

 Người ngồi là một thanh niên dáng khắc khổ nên già đi trước tuổi. Anh nhẹ buông chèo, chậm rãi trả lời:

 - Đã mấy lần tôi trình bày với bạn, hãy thông cảm hoàn cảnh của tôi. Vốn chỉ còn duy nhất một bà mẹ trên đời. Mẹ già rồi, sống rày chết mai. Tôi mạo hiểm đưa người về thăm quê ngoại ở Trung Lương, bởi biết chắc rằng đây là lần cuối cùng người có thể về thăm lại cảnh cũ chốn xưa, nơi chôn nhau cắt rốn. Tôi muốn làm vui lòng mẹ một lần chót, không ngờ rằng may mắn cứu được bạn và đồng đội thoát vòng vây hiểm nguy của kẻ thù.

 Người lính cật vấn:

 - Đơn vị hành quân chớp nhoáng, bí mật. Làm sao bạn biết được mà đến cứu tôi?

 Người kia trả lời ngay:

 - Tôi có người bà con đi lính trong đơn vị bạn. Hôm đại đội vượt sông Chợ Vạn là lúc tôi đang chèo thuyền đưa mẹ về quê. Tình cờ nhận ra, người ấy mới nói cho biết.

 Người thanh niên chắt lưởi, trầm tư cúi nhìn dòng nước lặng lờ trôi rồi tiếp lời, giọng đượm buồn:

 - Với tôi, tình bạn của chúng ta và những kỷ niệm thời thơ ấu là mật ngọt, là niềm tin. Tôi không hề dối bạn và sẵn sàng cùng bạn ra đi đến góc biển chân trời, khi tôi không còn mẹ ở trên đời nữa." Mẹ già như chuối chín cây "câu ca dao vỡ lòng chắc hẳn bạn còn nhớ chứ?

 Nói đến đây cũng vừa lúc thuyền rẽ vào bến đò Trung Phước. Bến đã vắng bóng người, chung quanh chỉ còn lại những người lính với ba lô súng đạn, chia ra từng tiểu đội bố trí phòng thủ. Người quân nhân níu ngọn cây nhanh nhẹn nhảy lên kè đá mấp mô bờ nước, bịn rịn quay nhìn người bạn hàn vi, không nỡ chia tay. Anh nói:

 - Tôi tin lời bạn, còn ở đây thế nào rồi cũng có dịp gặp lại. Cho tôi gởi lời thăm bác gái và biếu bác một ít quần áo, tiền bạc. Gói đồ tôi đặt nơi mũi thuyền. Hãy bảo trọng.

 Người thanh niên đẩy mái dầm vào kè đá cho thuyền quay đầu. Khuôn mặt đượm buồn, anh bùi ngùi nhìn bạn. Trước khi người và thuyền khuất vào bóng tối, người lính còn nghe văng vẳng lời nói:

 - Chúng ta mãi mãi là Bá Nha, Tử Kỳ của thời đại.

 Thuyền khuất dạng nhưng trên bến đò người quân nhân vẫn mãi dõi mắt ngó mông. Câu chuyện xảy ra chưa được một tuần, còn mới mẻ quá. Anh nghĩ, giá như hôm ấy không có người thanh niên lam lũ kia, thì..

 ....Trận đánh đẫm máu, không cân sức chỉ mới trôi qua vài ngày nhưng đã giết đi của Tuấn bao nhiêu là đồng đội. Buổi sáng Liên đoàn Biệt động Quân được trực thăng bốc đi vội vã. Tin tình báo cho biết chính xác, một Sư đoàn chính qui địch đang tiến chiếm nhiều căn cứ hỏa lực để tiếp cận quận lỵ Duy Xuyên. Chúng có ý đồ thôn tính quận lỵ và từ đó sẽ làm bàn đạp pháo kích bằng hoả tiển 130 ly vào thành phố và phi trường Đà Nẵng. Biệt động Quân được giao nhiệm vụ cấp thời chận đứng âm mưu địch, trước khi quân đoàn kịp thời tái phối trí lực lượng tiếp ứng.

 Sau khi đổ quân, từng tiểu đoàn bung rộng ra lục soát tìm địch. Đại đội Tuấn nhận lệnh vượt sông Chợ Vạn, làm mũi xung kích. Đúng 3 giờ chiều, vừa đặt chân đến đầu làng Trung Lương thuộc xã Xuyên Châu, đại đội lọt vào ổ phục kích. Những tràng thượng liên đầu tiên đốn ngã tức khắc những người lính khinh binh mở đường, cả đại đội rơi vào thế bị động. Ven sông là bãi cát trắng phau, rải rác những bụi dâu lẻ loi, dấu tích của một thời nuôi tằm dệt lụa. Chung quanh trống trải, không nơi ẩn núp để chống trả. Súng địch càng lúc càng rộ lên trên khắp mọi hướng. Trong tình thế tuyệt vọng, Tuấn quyết định đánh liều. Phải chiếm bằng được hầm hố, giao thông hào của địch để dựa lưng cầm cự, chờ quân tiếp viện. Sau khi hàng trăm tràng pháo binh yểm trợ nổ chụp xuống đầu địch vừa ngưng tác xạ, Tuấn ra lệnh đại đội dàn hàng ngang xung phong. Địch quân bất ngờ trước đòn phản công dĩ động chế động táo bạo của những chiến binh mũ nâu can trường, chúng tháo chạy ra khỏi nơi ẩn núp, không kịp mang theo vũ khí và đồng bọn.

 Lợi dụng lúc địch chưa hoàn hồn và đang bị pháo binh bắn đuổi, Tuấn tổ chức lại hàng ngũ phòng thủ, cố gắng cầm cự chờ bạn tiếp cứu. Chiều xuống dần, bóng tối bắt đầu len lỏi trên những đọt cây trụi lá, niềm hy vọng vào viện binh tiêu tan dần. Hai đại đội tiếp ứng bị chận đánh đoạn hậu, phải quay ngược lại để hổ trợ lẫn nhau, nên chi việc tiếp cứu cho Tuấn phải chờ thêm thời gian, trong khi thương binh chưa được tải thương và đạn dược cũng cạn kiệt dần. Áp lực địch càng lúc càng gia tăng, chưa biết chúng sẽ mở những đợt xung phong tràn ngập vào lúc nào, nhưng Tuấn đoán chắc chắn là sẽ trước khi trời tối hẳn.

 Trong tình thế nan giải tuyệt vọng, Tuấn và các sĩ quan đại đội chưa biết tìm lối thoát như thế nào, thì tiểu đội trinh sát dẩn vào một người đàn ông nông dân, hai tay bị trói quặt sau lưng. Tuấn lấy làm lạ tự hỏi, tại sao đang trong vùng giao tranh mà lại có dân. Hay đây là một tên địch cùng đường bị bắt rồi nhận ẩu là dân để được tha. Nhưng những người lính cho biết là gã đàn ông nầy cố tình bò vào khu vực phòng thủ, vừa bò vừa gọi lớn tên cúng cơm của Tuấn. Đến khi bị bắt thì một mực đòi gặp cho bằng được Tuấn, bảo rằng sẽ có cách cứu đại đội thoát khỏi vòng vây địch. Tuấn nhìn kỹ người lạ. Con người tuổi chừng thanh niên nhưng lam lũ nên thấy già đi trước tuổi. Tuấn không có một ấn tượng quen biết nào cả. Anh bảo lính cởi trói cho gã rồi thản nhiên hỏi tại sao lại biết tên họ của Tuấn. Người thanh niên im lặng nhìn chăm chăm vào mặt Tuấn, đột nhiên đọc lớn bốn câu thơ:

Một nong tằm, em về ươm dâu mượt,
Chín nén tơ, em dệt lụa thành thơ.
Gái Mã Châu vẫn chín đợi mười chờ.
Bao giờ hết giặc, anh nhờ mối mai.

 Người lạ vừa dứt mấy câu thơ, Tuấn bước mau đến ghì hai bờ vai gã và nói như thì thầm:

 - Có phải là Nguyễn Ướt,? Ướt "tay ngà" của Mã Châu ngày xưa không?

 Người đàn ông cảm động nghẹn lời, mắt rưng rưng, miệng méo xệch, chỉ biết gật đầu lia lịa.

 Cả thảy mọi người chung quanh ngơ ngác, không ai biết sự việc ra làm sao, chỉ thầm hiểu rằng vị đại đội trưởng của mình vừa gặp một câu chuyện cảm động.

 Sau đó đúng như lời hứa, người thanh niên hướng dẫn đại đội đi theo một con đê ngăn lũ có bờ cao đã bỏ phế từ lâu, thoát ra khỏi vòng vây địch dể dàng.....

 Và chiều nay trên chiếc thuyền nan bé nhỏ, xuôi theo dòng sông đã một thời chuyên chở biết bao kỷ niệm thưở ấu thơ, hai người bạn, một người là quân nhân chống Cộng và người kia thì đang sống trong vùng Cộng chiếm, họ đã hàn huyên tâm sự với nhau sau nhiều năm xa cách.

***


 Tuấn ra đời tại quê ngoại, làng Mã Châu xã Xuyên Châu huyện Duy Xuyên. Vào những năm 47, 48, quê hương Mã Châu chuyên nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa. Lụa Mã Châu vang danh khắp nơi và con gái Mã Châu cũng nổi tiếng xinh người đẹp nết. Mẹ của Tuấn vốn hiền thục đảm đang, sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống gia giáo cung đình của dòng họ Đoàn, quý phi thời Chúa Nguyễn phúc Lan. Mang huyết thống của bà Nội Tổ, mẹ Tuấn là hình ảnh tiêu biểu của những nàng thôn nữ hái dâu, giặt lụa bên bờ sông Thu Bồn êm ả hiền hòa. Ngày xưa tiếng hát của Nội Tổ đã làm xiêu lòng đấng Quân Vương, thì nay tiếng hát của bà cũng làm đảo điên lòng người lính trấn thủ đồn xa.

 Cha Tuấn quê Đà Nẵng, theo đơn vị về Duy Xuyên. Đến khi gặp mẹ Tuấn, ông cưới bà nhưng không đưa vợ về sống ở quê chồng. Ông không muốn người mình yêu thương phải xa cha mẹ, sống lẻ loi cô đơn trong tâm trạng não nề, u buồn của kẻ ly hương, để rồi buông lời than thống thiết mà không dám trách chồng như câu đồng dao Quảng Nam:

" Ngó lên Hòn Kẽm, Đá Dừng,
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi!"

 Cuộc đời chinh nhân đã đưa đẩy ông có dịp ghé thăm thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng Hòn Kẽm, Đá Dừng. Một chiều neo thuyền giữa lòng Hòn Kẽm, vào thời khắc hoàng hôn, ta mới hiểu thấu đáo chốn mây núi này vì sao có tên Hòn Kẽm Đá Dừng. Vách núi dựng đứng chẻ ra sậm một màu Kẽm, thế núi từ xa nhìn như bị khép lại. Ngồi trong lòng Hòn Kẽm trông lên trời ta có cảm giác thời gian như ngừng trôi, không gian tịch liêu như mộ địa, nỗi trống trải cô đơn cào xé làm tan nát lòng người. Có như vậy ta mới thông cảm được hết nỗi niềm day dứt, đau khổ của người con gái hiếu nghĩa, có chồng phải theo chồng, nhưng tấm lòng vẫn vương vấn nhớ thương cha mẹ, cũng xót xa không kém phần.

 Tuấn đã sống những năm tháng ấu thơ tuyệt vời trên quê ngoại. Người thanh niên tuổi đời bằng Tuấn nhưng đã già trước tuổi kia chính là bạn nối khố của anh. Người đó là Nguyễn Ướt. Học giỏi, hiếu thảo, tính tình điềm đạm, có bàn tay thật khéo, làm việc chi cũng thạo, nhất là kéo tơ dệt lụa, đẹp không thua gì những cô gái giỏi giang. Dân làng đặt cho một cái tên thật dễ thương: Ướt tay ngà.

 Năm Tuấn lên 14, giặc Cộng mở rộng chiến tranh xâm lấn miền Nam. Bom đạn tàn phá thôn làng, cày xới nhà cửa nương vườn, cướp đi sinh mạng của dân lành vô tội. Gia đình Tuấn phải di tản về sống ở quê nội tại Đà Nẵng. Cha mẹ Ướt cũng muốn đứa con trai độc nhất được tiếp tục học hành, nên cho theo ra Đà Nẵng, tá túc nhà Tuấn. Đôi bạn thân thiết ngày xưa lại có dịp bên nhau trau dồi đèn sách. Họ cùng trường, cùng lớp và cùng có với nhau nhiều kỷ niệm nơi thành hoa đô hội, nhưng lòng họ vẫn không thể nào quên được dòng sông tuổi thơ, những ngày hội làng, những đêm thức canh tằm ăn lên..... Đất Mã Châu là một phần xương thịt tạo nên và nuôi lớn thành hình hài, trí tuệ họ. Vài tháng một lần, họ rủ nhau về thăm quê, thăm cha mẹ Ướt. Ba năm trôi qua như thoi đưa, hai bạn trẻ bây giờ đã là những thanh niên bước vào tuổi mộng mơ. Họ tập viết văn làm thơ và bài thơ Nguyễn Ướt đọc trong buổi chiều giao tranh kia, chính là bài đầu tay của Tuấn thố lộ tâm tình thầm kín mà ngại ngùng chỉ cho mỗi mình Ướt biết. Tuy vậy, họ vẫn không sao lãng chuyện học hành. Năm tròn 18, cả hai thi đổ tú tài. Cứ những tưởng từ đây đường khoa bảng rộng mở, nhưng định mệnh nghiệt ngã bất ngờ ập đến với người thanh niên hiền lành, tài hoa kia. Cuối năm ấy cha Ướt mang bạo bệnh qua đời. Ướt về quê chịu tang và từ đó không bao giờ trở lại mái trường xưa nữa. Có lần Tuấn về thăm quê Ngoại, gặp Ướt hỏi lý do. Ướt chỉ gượng cười bảo là không thể bỏ mẹ, bỏ mộ cha còn vương mùi đất mới ra đi. Không còn giải pháp nào khác, hai người bạn tri âm tri kỷ đành phó mặc số phận đẩy đưa.



 Cuộc chiến tranh ý thức hệ mỗi ngày một tàn khốc và qui mô. Vùng quê ngoại của Tuấn giặc thường xuyên tràn về gây thảm họa. Bà con bên mẹ của Tuấn cũng lần lượt bỏ quê ra đi lánh nạn. Thành phố Đà Nẵng ngột ngạt không khí chiến tranh. Hàng đoàn thanh niên theo tiếng gọi non sông lên đường tòng quân bảo vệ tổ quốc, giữ gìn tự do. Tuấn tình nguyện vào trường Võ Bị. Kể từ ngày chọn binh nghiệp làm hướng đi, Tuấn chưa một lần gặp lại Nguyễn Ướt. Hôm nay là lần tái ngộ đầu tiên sau nhiều năm bặt tin.

***


 Chia tay với Ướt, Tuấn trở về đơn vị. Cả đêm nằm trằn trọc, dĩ vãng xưa cũ lần lượt hiện về. Thương bạn, nhớ kỷ niệm, Tuấn miên man suy nghĩ rồi thiếp vào giấc ngủ nặng nề. Về khuya khí trời se lạnh, đêm tĩnh lặng dị thường. Bỗng một người đàn bà đứng tuổi, quý phái, mặt hồng hào xinh đẹp như tranh vẽ, đang nhẹ nhàng lay Tuấn thức giấc. Anh chưa kịp ngạc nhiên, bà ta đã cầm tay dắt đi về hướng bờ sông. Bàn tay rất lạnh mà tiếng nói thì ấm áp, có uy lực và sung mãn lạ thường:

 - Ta với con vốn cùng huyết thống. Âm đức tích tụ bao đời nay của giòng họ ta dày lắm. Con cao số nên có duyên gặp ta vân du, vậy ta có lời truyền dạy: Vận nước nay mai sẽ đến hồi nghiêng ngửa, dân tộc phải trải qua tai kiếp lầm than trong hơn một phần tư thế kỷ. Con cũng cùng chung số phận nghiệt ngã nhưng cố gắng đừng để lòng mình chao đảo. Hậu vận rồi cũng sẽ hanh thông. Kẻ tội đồ dân tộc không tồn tại được lâu, chẳng qua đó là cách trừng phạt những lầm lỗi đã gây ra trước kia với Chiêm tộc. Nơi đây vốn là chốn sông nước hữu tình, ta không muốn thấy cảnh máu đổ thịt rơi. Thôi bây giờ con hãy về gọi anh em thức dậy. Có duyên sẽ còn gặp lại. Hãy ghi nhớ lời ta.

 Tuấn giật mình choàng tỉnh. Thì ra là giấc mơ. Tiếng nói vẫn còn vang vọng trong thinh không. Tuấn ngờ ngợ như đã gặp người đàn bà ấy ở đâu rồi mà không nhớ. Lời căn dặn như hãy còn văng vẳng bên tai. Tuấn vùng dậy rời khỏi võng và lập tức ban lệnh báo động. Cả cánh quân nhanh chóng xuống hầm hố cá nhân, sẵn sàng chiến đấu. Thời gian chậm chạp trôi qua. Đêm vẫn mênh mông yên tĩnh. Ban chỉ huy ngạc nhiên với mệnh lệnh của vị đại đội trưởng. Tuấn còn đang phân vân ngờ vực, thì bất chợt tai nghe những tiếng depart quen thuộc của hỏa tiển địch. Tiếng réo lạnh gáy. Mặt đất bỗng như lên cơn địa chấn, màn đêm bị xé toạc bởi hàng trăm, hàng ngàn loạt đạn pháo địch. Nhờ thần linh báo mộng, nên đơn vị Tuấn tránh được tổn thất hãi hùng. Đó là những giây phút mở đầu của cái gọi là chiến dịch mùa xuân 75 của những người hiếu chiến Bắc phương.

 II. Ra tù. Niềm vui sum họp với gia đình chưa trọn vẹn thì lại phải chia tay. Lệnh cho tất cả những người chế độ cũ ở tù ra đều phải đi vùng kinh tế mới. Tuấn nhận giấy, nhưng không đi đâu xa, mà lại về quê ngoại. Anh nghĩ, một thân một mình sống ở đâu mà chả được. Tuấn muốn tìm lại khung trời kỷ niệm thưở bé thơ, thời niên thiếu và nơi chốn gian nguy mà mỗi bước đi là cận kề với cái chết chực chờ. Cuộc sống tuy nhọc nhằn, hiểm nghèo, nhưng xứng đáng và không kém phần hào hùng của đời trai. Tuấn thấy không có gì ân hận khi phải trả giá nhiều năm tù. Cảnh cũ bây giờ đã thay đổi nhiều. Người xưa cũng lưu lạc tứ phương. Tuấn tìm về mảnh vườn thân quen thưở bé của người bạn hiền và ngạc nhiên xiết bao, nơi đây vẫn như xưa, chẳng có gì thay đổi lớn lắm. Láng giềng cho anh biết, Nguyễn Ướt vẫn còn sống độc thân và thường đi buôn bán đây đó.

 Mấy hôm sau, trên dòng sông quê hương, đôi bạn tri âm tri kỷ sau bao năm dài nay mới được trùng phùng.

 - Ta neo thuyền ở đây uống rượu, nói chuyện cho kín đáo và thoải mái.

 Dưới lòng thuyền nhỏ bé, hai người bạn thân thiết từ thuở tóc còn để chỏm, đến nay đã qua tuổi "tam thập nhi lập" cùng nâng ly, chén tạc chén thù.

 Ướt tay ngà mở lời:

 - Bao nhiêu năm chờ đợi, mình mới có được ngày hôm nay. Vật đổi sao dời, nhưng mình vẫn mãi mãi là những người bạn tốt của nhau. Vậy hãy cạn ly.

 Rượu được rót ra từ một chiếc ấm nhỏ. Họ uống mừng cuộc hội ngộ. Một lít rượu gạo, một con gà luộc chấm muối tiêu, một nồi cháo. Tiệc rượu đơn giản nhưng họ cũng thấy đời ấm áp thi vị. Ướt bùi ngùi nói tiếp:

 - Bạn còn nhớ lời mình tâm sự trong buổi chia tay trên bến sông này năm xưa không? Chỉ tiếc là chúng ta chẳng còn dịp ngang dọc vẫy vùng như lời đã hứa. Nước mất nhà tan. Bạn vào tù, mẹ mình qua đời, đất nước có thêm những ông chủ mới tham lam, nên nghèo càng nghèo, mình thì vẫn cứ tiêu dao quên ngày tháng. Đời chẳng mấy gì vui. Tuấn lo lắng hỏi bạn:

 - Vậy công an không làm khó khăn bạn sao?

 Ướt cười mỉa mai:

 - Có thì làm gì được mình. Lý lịch trong sạch, không dính líu gì đến chế độ cũ. Có giấy chứng nhận yếu kém sức khoẻ của bác sĩ nhà nước đàng hoàng. Địa phương cũng không ý kiến gì cả, thì còn ai động đến làm chi. Ướt đốt thuốc, rít một hơi dài rồi ngửa cổ uống cạn ly rượu, khà một tiếng sảng khoái. Tuấn nhìn bạn như một hiện tượng lạ. Người thanh niên hiền lành ngày xưa, không rượu không thuốc, bây giờ cung cách sống có vẻ bạt mạng giang hồ, pha lẫn nét trầm tư chán chường.

 Im lặng. Lòng thuyền đẫm ướt ánh trăng và sương đêm. Ướt bỗng bật cười ha hả, nói với Tuấn:

 - Ngày xưa, chia tay với bạn trên bến sông. Mình chào từ giã mà tựa như nói lời tống biệt của Cao tiệm Ly với Kinh Kha trên dòng sông Dịch Thủy bến Hàm Dương thưở trước. Ngày đó, nếu quả bạn là Kinh Kha thì chắc rằng đời này mình sẽ chẳng còn dịp chứng minh được những gì đã nói với bạn, như hôm nay đâu Tuấn nhỉ.

 Khung cảnh hữu tình, rượu và bạn hiền, tất cả quyện vào lòng Tuấn một mối tương giao như mật ngọt. Trong cảnh đời ô trọc này, thật quá hiếm hoi những giây phút trân quý như hôm nay. Tuấn bỗng thấy lòng sôi nỗi:

 - Vấn đề không phải ai là Kinh Kha. Quan trọng ở chỗ là cả Kinh Kha lẫn Thái tử Đan đều cùng một chí hướng diệt Tần. Dẫu thất bại, họ vẫn thủy chung là anh hùng.

 Tuấn nhìn bạn rồi tiếp lời:

 - Mình chấp nhận tất cả hậu quả. Đã mang nghiệp lính thì tất phải hiểu câu: Nhất khứ bất lai hoàn.

 Đêm sâu hun hút. Sương mờ giăng giăng khắp núi rừng huyền bí. Cùng với trăng khuya, đôi bạn tâm đầu ý hiệp thức thâu đêm, cạn với nhau đến giọt rượu cuối cùng. T rước khi lịm vào cơn say, Ướt còn nói với Tuấn:

 - Chúng ta không thể nắm tay nhau đi bảo vệ cơ đồ, thì chúng ta cũng có bên nhau để nương tựa vá víu cuộc đời đã quá nhiều bất hạnh. Bắt đầu ngày mai, bạn sẽ theo tôi làm ăn và không đi vùng kinh tế mới, cũ nào hết.

 Tuấn chìm vào giấc ngủ với niềm hạnh phúc của tình bạn thủy chung. Bỗng, mơ màng từ xa, bập bềnh trên sóng nước, người đàn bà đẹp như tranh vẽ đã một lần Tuấn gặp mặt ngày xưa, đạp sóng đi đến cạnh mạn thuyền. Ánh mắt dịu dàng, bà nói với Tuấn:

 - Chúng ta có duyên nên lại gặp nhau. Ta đến báo cho con biết, đất nước mình vẫn còn phải linh đinh trong u linh tăm tối, một thời gian nữa mới qua hồi tai kiếp. Tuy nhiên, vượng khí của con thì đã đến kỳ. Chẳng bao lâu nữa con sẽ được ra đi đến nơi chốn tự do và no ấm.

 Ký ức hiện về. Tuấn ngồi dậy ngay ngắn, chấp tay xá người đàn bà rồi anh nói:

 - Con cảm tạ ơn bà ngày xưa đã báo mộng cho biết trước điều hung hiểm xảy ra mà kịp tránh. Nay xin phép được thưa chuyện cùng bà. Tổ quốc lầm than, vậy phải làm sao đánh đuổi kẻ tham tàn để sớm cứu nước an dân? Con người trần mắt thịt, tài đức thấp hèn không đầy gang tay, xin thần nhân hãy thương tình ra tay cứu độ.

 Nói rồi quỳ lạy. Người đàn bà đỡ Tuấn dậy. Bàn tay vẫn giá lạnh như xưa. Bà ân cần nói với anh:

 - Con là người nhân hậu nhưng mệnh trời không ai có thể cưỡng lại được. Phải bền gan chịu đựng, chờ đợi đến lúc xoay vần của tạo hóa. Riêng những kẻ chân chính, vì dân tộc phải chịu tù đày thì nay mai tất sẽ được bù đắp.

 Trong lòng chợt nhớ đến bạn, Tuấn hỏi thêm:

 - Bà linh hiển biết trước chuyện quá khứ vị lai, vậy cho phép con hỏi: bạn con mai này có cùng được ra đi đến đất tự do không? Và tương lai sẽ như thế nào?

 - Có người ra đi thì tất cũng cần có kẻ ở lại để gánh vác cho đại cuộc mai sau. Bạn con có thể là người kế tục, phải hoàn thành những di mệnh thiêng liêng của tiền nhân ký thác. Trách nhiệm to tát, nặng nề, nhưng người này chí lớn, giỏi giang và thủy chung, về sau sẽ làm nên đại sự. Ngay từ bây giờ con cần có mặt bên cạnh y và phải giúp đỡ y tháo gỡ những bế tắc, chán chường. Không nên nóng nảy liều lĩnh hư việc, mà phải dành thân tâm để xử dụng vào việc lớn.

 Từ xa một chiếc thuyền Rồng lướt đến, người đàn bà bước lên. Thuyền trôi phăng phăng về chốn núi ngàn, thoáng chốc chỉ còn nhạt mờ trong màn sương đêm. Bên tai, Tuấn còn nghe văng vẳng tiếng nói vọng lại:

 - Ta biết trong lòng con còn một câu hỏi nữa. Ta cho con biết luôn. Ta đây chính là Thần Tông Trinh Thục Hiếu Chiêu Đoàn Hoàng Hậu, ngoại Tổ năm đời của con.

 Trời hừng đông. Tuấn choàng tỉnh. Những lời căn dặn huyền bí như hãy còn lảng vảng trong đầu. Quả là thần nhân, biết được cả những điều còn giấu kín trong lòng.

 III. Theo chân bạn, Tuấn bắt đầu một cuộc đời mới. Họ đi khắp đó đây, buôn bán đủ thứ mặt hàng, tiếp xúc đủ hạng người từ thứ dân đếnn cán bộ quyền thế. Lúc thì đi thuyền vào tận Dùi Chiêng, Tý, Sé mua dầu rái, dầu trai. Lúc quá giang xe cây lên mãi Trà Mi, Hiệp Đức mua gỗ, mua quế. Hàng nào cũng có sẵn mối bán ở Đà Nẵng, Hội An. Thỉnh thoảng gặp được hàng quí hiếm như trầm, kỳ nam, Ướt càng thích thú. Chuyển về xuôi, hàng được giá thì bán tại chỗ, không thì mang thẳng vào bán ở Sài Gòn. Nơi đâu Ướt cũng có mối lái. Anh rành nhiều mặt hàng mà thị trường luôn luôn có nhu cầu cao. Có điều mặt hàng nào cũng thuộc loại quốc cấm, lậu thuế. Anh lịch duyệt và ma mãnh như một tay từng trải lão luyện. Có lần di chuyển bị phát hiện bắt giữ, hàng cấm lại lớn vốn. Tuấn xuýt xoa lo lắng nhưng Ướt thì phớt tỉnh như chẳng có chuyện gì. Rồi không biết bạn phù phép bằng cách nào mà chỉ mấy hôm sau thì hàng được thả đi trót lọt. Tuấn hỏi đến, Ướt chỉ cười rồi đọc mấy câu vè dân gian truyền khẩu: " Tiền là Tiên là Phật, là sức bật của con người, là nụ cười của tuổi trẻ, là sức khỏe của ông già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân ... " rồi anh cười vang, tiếp lời:

 - Xã hội không còn phân biệt thị phi, trắng đen. Đi với ma phải mặc áo giấy. Cũng như bạn, bây giờ lại trở thành một tay cán bộ huyện có giấy tờ hẳn hoi. Không dại gì liêm sỉ với kẻ điêu ngoa ác độc, chỉ tự đày ải làm chết đi tấm thân quý giá mà ta cần gìn giữ chờ ngày ... Ướt bỏ lửng câu nói.

 Những ngày tháng bên nhau, Tuấn thầm cảm phục bạn. Ướt sống ngang tàng và cao ngạo như một tay thổ phỉ nhưng lại có phong cách kiêu bạc mã thượng của đấng trượng phu. Kẻ đối nghịch ghét anh nhưng đồng thời cũng sợ và phục anh. Đối với người hiền lương, Ướt luôn luôn kính trên nhường dưới, sẵn sàng giúp đỡ. Làm ăn khấm khá, tiền vô như nước nhưng không thấy Ướt tiêu pha hoang phí bao giờ. Anh sống như một con người đạo đức, lúc nào cũng chừng mực và ưu tư. Thảng hoặc những khi đêm về không có ai ngoài Tuấn, Ướt mới thổ lộ tâm tình, nhưng thường chỉ nói xa xôi bóng gió, không lang lớp rõ ràng, ra đâu vào đâu. Tuy vậy Tuấn cũng mơ hồ hiểu rằng, hiện tại lòng Ướt như còn có điều bí ẩn mà anh chưa tiện nói ra. Tuấn cảm nhận Ướt như đang mang một món hàng nặng quá tải, so với trọng lượng bé nhỏ của mình.

 Thỉnh thoảng vài tháng, Ướt lại thúc bạn về thăm gia đình. Thời gian nầy Ướt đi đâu không rõ nhưng lúc trở về lại càng suy tư ít nói hơn trước. Tuấn chợt nhớ lời thần nhân báo mộng: người nầy chí lớn, về sau sẽ làm nên chuyện lớn. Và anh tin rằng giữa cõi đời trầm luân, điêu ngoa, đảo điên nầy, "Ướt tay ngà" đa cảm của tuổi thơ xưa, vẫn không hề bị biến chất và lùi bước trước kẻ thù.

 Năm 1990 đúng như lời tiên tri của thần nhân, những tin tức phong thanh về chương trình định cư cho người tù chính trị trở thành hiện thực. Gia đình nhắn Tuấn về lập hồ sơ xuất cảnh. Đôi bạn thâm giao tri kỷ ngày xưa lại một lần nữa nói lời giã biệt. Trước ngày ra đi, Tuấn thuật lại những điềm báo trong giấc mộng cho Ướt biết và khuyên bạn cẩn trọng trong công việc, giữ gìn sức khỏe dành lo đại cuộc.......

 Đoạn kết Thư của Tuấn viết từ đất nước Hoa Kỳ gởi cho bạn Nguyễn Ướt ở Việt Nam.

 Hoa thịnh Đốn, ngày ...

 Bạn thương nhớ!

 Đặt chân đến vùng đất bình an chưa được bao nhiêu ngày, tôi đã thấy quay quắt nhớ. Hình như đó là tâm trạng chung của tất cả những con người tình cảm gắn bó keo son với quê hương - một quê hương hiện thực xa hơn nửa vòng trái đất, đang quằn quại đau khổ bởi nhiều vết thương vá víu, của bao đổi thay thăng trầm, chìm nổi lịch sử. Ra đi mà thấy lòng xốn xang, ray rứt không yên, như một kẻ trốn chạy định mệnh khắc nghiệt. Từ nay tôi không còn ở cạnh bên bạn để chia sẻ gánh nặng san hà. Gánh trách nhiệm non sông tôi đã sang vai hết cho bạn, cho bao nhiêu con người tâm huyết khác còn ở lại trong nước, đang lặng lẽ ngày đêm chiến đấu âm thầm với kẻ thù để dành lại Tổ Quốc thân yêu, để thế hệ mai sau được trường tồn và triệu triệu người dân mãi mãi sống đời tự do, hạnh phúc vĩnh cửu.

 Bạn mến!

 Những năm tháng sống bên nhau, tuy bạn không hề nói ra nhưng tôi cảm nhận được bạn đang mưu đồ việc lớn. Những kẻ xa lạ khắp bốn phương tìm đến gặp bạn to nhỏ. Những lần bạn âm thầm ra đi một mình, đến lúc trở về thì chìm đắm trong nỗi suy tư triền miên. Bạn không hề biết là tôi đã lẳng lặng cùng bạn thức tàn đêm. Thời gian trôi qua, tôi cứ mãi trông chờ ở bạn một lời tâm sự và tôi sẵn sàng hủy bỏ chuyến ra đi để ở lại nhập cuộc cùng bạn. Thế nhưng có thể bạn thương tôi mới ra tù, hoặc lý lịch dễ bị truy nguyên, không mấy thuận lợi cho đại cuộc. Do đó, gánh nặng núi sông bạn giành lấy một mình.

 Ở trong nước tin tức bị bưng bít và bóp méo. Qua bên này tôi mới biết hiện tại ở quê nhà đang có một tổ chức phục quốc quy mô, được dân chúng ba miền ủng hộ và nhiều đoàn thể hưởng ứng. Họ là những người khoa bảng đại diện cho tầng lớp trí thức, là thế hệ thanh niên sinh viên học sinh đầy nhiệt huyết và niềm tin tương lai đất nước, là những công nhân nông dân giàu lòng yêu nước, là những đảng viên Cộng sản có thừa tỉnh táo và kinh nghiệm đối phó. Họ sáng suốt nhận ra sự độc tài thao túng của đảng, sự tàn ác bạo ngược của chế độ và tương lai tăm tối của dân tộc. Họ đặt tiền đồ tổ quốc và sinh mệnh dân tộc cao hơn đảng, nặng hơn quyền chức, do đó họ mạnh dạn đứng lên chống đảng, chống bè phái cầm quyền thủ lợi. Nhà nước Cộng sản bối rối, họp hành liên miên để tìm biện pháp trấn áp. Nhưng vô ích, phong trào lớn mạnh như cơn thủy triều đang dâng mà người lãnh đạo phong trào thì vẫn là bóng ma, còn nằm trong bí mật. Chỉ biết phong thanh đó là một thanh niên tài hoa, thân thế mơ hồ, có tài hùng biện và đặc biệt có đôi bàn tay rất đẹp, rất khéo làm việc gì cũng tốt, cũng hoàn hảo.

 Tôi không biết người đó có phải là bạn không? Trên đời, chuyện người giống người vẫn là thường tình. Nhưng căn cứ vào lời thần nhân báo mộng và linh cảm mách bảo, khiến tôi tin tưởng điều cảm nhận đã không lừa dối mình. Tôi ngầm hãnh diện và tự hào về bạn, về một quê hương đã sản sinh ra lắm anh hùng hào kiệt. Cầu mong khí linh của sông núi nước Nam và hồn thiêng uy vũ của dân tộc sẽ phù hộ độ trì cho bạn, cho những con người tâm huyết, vì đại nghĩa sẵn sàng dấn thân cứu nguy tổ quốc, để viết lên thiên anh hùng ca rực rỡ bất khuất, tồn tại vĩnh cửu trong lòng muôn người và vang danh hậu thế.

 Tôi tài sơ trí thiển, không giúp bạn tạo dựng được nghiệp lớn núi sông, lòng vẫn hằng ray rức đau khổ. Hiện tại không biết phải làm gì, duy nhất chỉ có tấm lòng thành tâm, cầu chúc bạn và tổ chức mau đạt thành tâm nguyện để cứu dân, cứu nước sớm thoát vòng trầm luân khổ ải ./-

 Bạn thân

 Tuấn

Atlanta, Hè 2001

 Lê Luyến
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn